|
^^aby^^
|
 |
« vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2008, 04:53:46 AM » |
|
I.Đặt vấn đề
Sức khoẻ đối với mỗi cá nhân là vô cùng đáng quý, nó là tài sản lớn nhất mà cuộc sống ban tặng cho mỗi con người, do dó mỗi người cần ý thức được tầm quan trọng của viẹc chăm sóc sức khoẻ cho chính mình và những người thân. Mỗi cá nhân khoẻ mạnh sẽ tạo nên một xã hội khoẻ mạnh lao động hết mình vì sự phát triển chung của toàn xã hội. Nhưng trong xã hội ngày nay với sự phát triển chóng mặt của quá trình đô thị hoá, đã kéo theo hang loạt các vấn đề về môi trường, môi trường ô nhiễm nặng kéo theo hàng loạt các vấn đề về sức khoẻ của con người,bệnh tật xuất hiện ngày một nhiều,nhất là các căn bệnh chưa tìm ra thuốc điều trị như(bệnh ung thư, HIV…) cùng các căn bệnh hiểm nghèo đe doạ đến tính mạng của con người như bệnh tim mạch, phổi, gan, thận đặc biệt là bệnh tim. Theo tổ chức y tế thế giới WHO công bố báo cáo “ gánh nặng toàn cầu” cho biết bệnh tim là nguyên nhân gây tử vong hàng đầ ở các nước phát triển(nguồn tin từ thông tấn xã Việt Nam), năm căn bệnh gây tử vong cao nhất toàn cầu, viêm phổi, bệnh tim, tiêu chảy, HIV/ AIDS và đột quỵ.
Ở Việt Nam bệnh tim là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu từ năm 2000, số người mắc căn bệnh này ngày càng bị trẻ hoá, trong quá trình mang bệnh và điều trị họ gặp rất nhiều vấn đề khó khăn về trở ngại tâm lí, tìm kiếm những nguồn hỗ trợ từ xã hội đặ biệt là đối với bệnh nhân nghèo để giúp họ phẫu thuật thoát khỏi căn bệnh này những vấn đề của họ cần đến sự hỗ tợ của NVCTXH. CTXH trong lĩnh vực CSSK nói chung là một lĩnh vực hoạt động lớn của những NVCTXH với sứ mệnh của mình NVCTXH cần vượt ra khỏi khuôn viên của bệnh viện và các cơ sở y tế để dến với công đồng tìm đến những người bệnh. Nên tiềm năng thực hành và phát triển vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực CSSK nói chung và CTXH với người bị bệnh tim ở nứoc ta có nhiều tiềm năng để phát triển.
II NỘI DUNG
1. Khái niệm công tác xã hội.
CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ , qua đó ctxh theo duổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. CTXH là hoạt động thực tiễn bởi họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng, với nhóm người cụ thể và mang tính tổ hợp cao , bởi người làm CTXH phải làm việc với nhiều vấn đề khác nhau như tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình, vấn đề sức khoẻ…( cô nguyễn thị oanh – ĐH MỞ BÁN CÔNG TPHCM)
Đặc điểm của NVCTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ Trên thực tế thực hành CTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ là lĩnh vực lớn nhất của NVCTXH. Theo như Bracht (1798) đã nêu “tính độc đáo của CTXH đến từ trọng tâm hỗ trợ nhu câu về sức khoẻ thể chất,tâm lý xã hội và môi trường của thân chủ”. NVCTXH trong lĩnh vực CSSK là giúp đỡ bệnh nhân thích nghi với bệnh tật và những thay đổi trong thời gian điều trị hay nhập viện, đồng thời tham vấn, tư vấn về mặt tâm lí cho bệnh nhân và người nhà của họ những khó khăn trở ngại khủng hoảng về mặt tâm lí do bệnh tật gây ra,và giúp bệnh nhân tìm kiếm các nguồn lực tài nguyên trong xã hội hỗ trợ việc điều trị căn bệnh của họ.
NVCTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cần phải biết đánh giá cao sự cần thiết phải hiểu đựoc các quy thức tổ chức của cơ sở y tế, bệnh viện, phòng khám để đáp ứng được nhu cầu của bệnh nhân.
NVCTXH cần phải biết phối hợp với các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ( bác sĩ, y tá, nhà vật lí trị liệu, nhà tâm lí học, chuyên gia trị liệu…) trong việc điều trị giúp đỡ thân chủ, và vai trò của NVCTXH trong đội ngũ CSSK đóng vai trò là cực kì quan trọng,bởi họ là những chuyên gia duy nhất mà có nền tảng trung tâm là uan điểm chính thể luận của họ về một thân chủ( quan điểm nhấn mạnh đến khía cạnh cá nhân, xã hội, gia đình, văn hoá và môi trường trong khả năng lập chức năng xã hội)
NVCTXH trong lĩnh vực CSSK thực hiện chức năng trong một bối cảnh thứ cấp, nghĩa là chức năng hàng đầu của các dịch vụ CSSK thường là được điều hướng tới các khía cạnh y sinh,và các dịch vụ xã hội khác.
Vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực cssk
Nhân viên CTXH trong lĩnh vực CSSK bao gồm các vai trò sau:
Nhân viên quan trị Nhân viên trị liệu gia đình
Nhà tham vấn Nhà tham vấn hôn nhân
Giáo viên – chuyên gia đào tạo Thành viên tổ đội
Nhà nghiên cứu Cộng tác viên
Người biện hộ Người phát triển nguồn lực
Người xử lý khủng hoảng Nhân viên lập kế hoạch dịch vụ
Người tìm kiếm trường hợp Người huấn luyện khả năng
Nhân viên bộ phận xuất viện Người tạo thuận lợi
Người xây dựng hội viên Người điều hợp
Nhân viên sàng lọc bệnh nhân Nhà tư vấn
Nhân viên phát triển cộng đồng Trợ lý
Đại diện cho bệnh nhân Nhân viên duy trì
Người phụ trách liên lạc Người thương lượng
Nhà tổ chức Nhân viên thực hành –nhà khoa học
Nhân viên cải cách Nhà tâm lí trị liệu
Nhân viên tiếp nhận bệnh nhân Nhân viên điều hành hoạt động nhóm
Giám sát viên Chuyên viên lượng giá
Trên đây là những vai trò chung mà nhân viên CTXH có thể đảm nhận, tuy nhiên ở Việt Nam do những đặc điểm về mặt xã hội và ngành nghề có sự khác biệt so với các nước phương tây, nên vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực CSSK mang nhữn nét đặc thù riêng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ta không thể dạy người khác cái gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ ( Galileo Galile 1564-1642 )
|
|
|
|
^^aby^^
|
 |
« Trả lời #1 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2008, 04:54:37 AM » |
|
Nếu làm trong bệnh viện thì Nhân viên CTXH trở thành người thứ hai, sau bác sĩ, hỗ trợ cho bệnh nhân được tiếp cận các dịch vụ chữa trị một cách tốt nhất và hiệu quả, hỗ trợ cho người bác sĩ chữa bệnh cho bệnh nhân một cách tốt nhất, cung cấp các dịch vụ xã hội cho bệnh nhân. Ta có thể thấy được rằng tuỳ từng vai trò của nhân viên CTXH như thế nào thì nhân viên CTXH sẽ đảm nhận các công việc phù hợp với vai trò của mình. Nếu nhân viên CTXH mở phòng khám riêng thì có vai trò là người điều phối và đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình điều trị cho bệnh nhân.Nếu bệnh nhân gặp các căn bệnh về thực thể thì ta có thể giúp bệnh nhân tiếp cận và chữa trị tại bác sĩ, nếu bệnh nhân gặp phải các căn bệnh về tâm lý nằm ngoài khả năng điều trị của nhân viên CTXH thì có thể giới thiệu đến bác sĩ tâm lý ( Vì ta biết rằng có nhiều vấn đề tâm lý mà nhân viên CTXH vẫn có thể khả năng tham vấn và tư vấn cho bệnh nhân). Chúng ta có thể cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bệnh nhân về ( Kinh tế, thuốc men…). Sau quá trình điều trị tại các bác sĩ thực thể và bác sĩ tâm lý thì bệnh nhân lại quay trở về với chúng ta và tiếp tục quá trình điều trị cho đến khi bệnh nhân có thể thích ứng được với căn bệnh của mình hay sau khi khoẻ mạnh. Ta có thể thấy rằng CSSK vẫn đang đầy sự căng thẳng. Như một tác giả đã nêu “ngày hôm qua thế giới bị “kiểm toán”, ngày nay là nội hàm của nó” (Nacman, 1980,tr.11). Với sự chú ý ngày càng cao của các nhà quản trị CTXH tới việc đảm bảo chất lượng và sự minh bạch, và nhu cầu của khách hàng ngày càng cao về các dịch vụ y tế hiệu quả, sẵn có và dễ tiếp cận, thì nhân viên CTXH cần phải định rõ vai trò và vị trí của mình trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ. Bệnh tim -mạch 2.1Khái niệm bệnh tim Bệnh tim và mạch máu- bệnh tim mạch bao gồm nhiều vấn đề, trong số chúng có liên quan tới một quá trình được gọi là xơ vữa động mạch, xơ vữa động mạch là bệnh phát triển một chất gọi là mảng bám tích tụ lại trên vách của các động mạch, sự tích tụ này thu hẹp động mạch khiến máu khó lưu thông. Nếu cục máu hình thành có thể chặn lưu lượng máu, điều này có thể gây ra cơ đau tim hay đột quỵ. Cơn đau tim sảy ra khi máu chẩy đến một bộ phận của tim bị chặn lại bởi một cục máu, nếu một cục máu này cắt đứt hoàn toàn lưu lượng máu phần cơ tim được cung cấp bởi động mạch này bắt đầu tê liệt. Hầu hết mọi người sống sót qua cơn đau tim đều trở lại với cuộc sống bình thường, nhưng phải chịu sự hành hạ của bệnh tật suốt đời. Đột quỵ do thiếu máu cục (loại phổ biến nhất) xảy ra khi một mạch máu nuôi não bị chặn lại bởi một cục máu, khi máu cung cấp tới một phần não bộ bị đóng lại, các tế bào não sẽ chết, kết quả sẽ là sự bất lực để thực hiện một số chức năng trước đó như đi bộ hoặc nói chuyện. Hậu quả của đột quỵ vĩnh viễn là quá nhiều tế bào não chết sau đột quỵ do thiếu máu và ô xi tới não, các tế bào này không bao giờ được thay thế. Các loại bệnh tim: Suy tim: Cơ thể con người bao gồm rất nhiều bộ phận là những cơ quan, mỗi cơ quan như vậy đã được phân công một số nhiệm vụ nhất định thường gọi là chức năng. Nếu vì một nguyên nhân nào, khiến cho cơ quan không đủ sức làm tròn chức năng chính của mình người ta dùng chữ “suy chức năng” nói gọn là suy như suy thận, suy gan. Sim tim: Chức năng của quả tim là bơm máu đi khắp cơ thể để cung cấp o xi và các chất cần thiết khác cho từng tế bào, đồng thời hút máu từ khoảng giữa của các tế bào về tim. Người ta dùng từ suy tim khi quả tim vì một nguyên nhân nào đó không còn khả năng làm nhiệm vụ đó nữa, không bơm đủ máu cho các tế bào bị đói oxi mà cũng không hút được về tim máu đã nghèo oxi rồi, để nó ứ đọng trong người. Chứng loạn nhịp tim: Tim có thể đập quá nhanh hoặc quá chậm bất thường, tim đập chậm khi nhịp tim thấp hơn 60lần/phút và tim đập nhanh khi nhịp tim cao hơn 100lần/phút. Điều này làm ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của tim, tim có thể không có khả năng bơm đủ máu để đáp ứng nhu cầu cho cơ thể. Căn bệnh về van tim: Các van tim mở không đủ cho máu chảy qua như bình thường gọi là hẹp van tim. Khi các van đóng không đúng cách và cho máu rò rỉ qua. Gọi là sự chảy ngược qua van hai lá. Khi các van tim phồng lên hoặc bị sa vào ngăn tim trên gọi là bệnh lệch van tim hai lá. Khi điều này xảy ra chúng có thể đóng không đúng cách. Điều này khiến cho máu chảy ngược qua chúng 2.3Nguyên nhân của bệnh tim mạch: Bệnh tim xuất hiện ở mọi lứa tuổi từ trẻ sơ sinh cho đến người già - Đối với trẻ sơ sinh: trẻ bị mắc bệnh tim bẩm sinh, nguyên nhân là do lỗi gen APOE. Sự thiếu hụt một trong các dạng gen APOE, có thể gây ra chứng xơ cứng động mạch hay hẹp động mạch ở trẻ sơ sinh.Cụ thêr gen APOE biểu hiện dưới ba dáng e2, e3, e4 trong chuỗi AND, gen APOE đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ thống miễn dịch, kiểm soát sự tăng trưởng của các tế bào và sự phát triển của não bộ cũng như cung cấp các chỉ dẫn di truyền học cho việc sản sinh ra những chất béo và Protêin thiết yếu trong máu. Nếu gen này hoạt động không đúng chức năng, nó sẽ không có khả năng ngăn cản tình trạng xơ vữa của các mạch máu từ đó khiến động mạch bị sơ cứng hay hẹp dần. Ở trẻ sơ sinh có nguy cơ mắc bệnh tim, số lượng gen APOE dạng e4 ở mức độ bình thường, dạng e5 hơi cao, còn dạng e2 thì khá thấp. Do đó các nhà khoa học chuẩn đoán rằng sự thiếu hụt dạng e2 chính là nguyên nhân dẫn đến việc mắc phải các bệnh tim mạch sau này ở trẻ nhỏ. - Đối với người lớn: Nguyên nhân dẫn đến bệnh tim mạch là do bệnh huyết áp, bệnh đái tháo đường tăng cao, ăn uống không khoa học, nghiện thuốc lá, nghiện rượu và do nhiễm mỡ máu. 2.4 Triệu chứng của bệnh tim- mạch Đau nhức: - tự nhiên cảm thấy khó chịu hay đau nhức cho dù bạn có nghỉ ngơi cũng không thấy - Đau ở trước ngực, cổ cằm, vai, tay hay lưng - Cảm thấy đau như cắt, đau như bị siết chặt lại, nặng nề hay khó - Phụ nữ cảm thấy đau nhưng lờ mờ, lúc ẩn, lúc hiện - Đau ở trước ngực hay cảm thấy khó chịu do làm việc mệt nhọc và sẽ giảm đi nếu được nghỉ ngơi Hơi thở đứt đoạn - Khó thở Sự nôn mửa - Khó tiêu hoá - Ói mửa 3 .Thực trạng và tình hình bệnh tim ở nước ta Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới toàn cầu có 17,5 triệu người bị bệnh tim, 80% tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Ở nước ta tổ chức y tế thế gới đang lo ngại vè tình trạng bệnh tim gia tăng ở việt nam. Bệnh tim mạchlà bệnh có nguy cơ tử vong cao, năm 1980 bệnh tim mạch gây tử vong cao đứng thứ tư, năm 2000 bệnh này gây tử vong hàng đầu. theo GS.TS Phạm Gia Khải, chủ tịch hội tim mạch học quốc gia ở Việt Nam cho biết từ năm 2000 bệnh tim là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nước ta. Cụ thể về tình hình tử vong do các loại bệnh gây ra ở nước ta từ năm 1980 đến năm 2000 được thể hiện như sau: Theo các năm năm Hàng đầu Hàng thứ 2 Hàng thứ 3 Hàng thứ 4 1980 Nhiễm khuẩn Sơ sinh Ung thư Tim mạch 1990 Nhiễm khuẩn Tim mạch Tim mach Sơ sinh 2000 Tim mạch Ung thư Các nguyên nhân khác Nhiễm khuẩn NHư chúng ta đã biết nguyên nhân dẫn đén bệnh tim mạch là do bệnh cao huyết áp,hút thuốc lá nhiều và mỡ máu cao. Tỉ lệ người trưởng thành mắc cao huyêt áp ở nước ta là 16% trong khi 10 năm trước là 2%, bệnh tăng huyết áp là một minh chứng khá rõ rệt về sự phất triển bệnh tim mạch ở Việt Nam. Năm 1960 người bệnh chiếm 1% dân số tại miền Bắc ,năm 1976 người bệnh chiếm 1,9 % dân số tại miền Bắc, năm 1992 chiếm 11,7% đối với cả nước, năm 1999 là 16,05% ở nội thành Hà Nội, năm 2001 chiếm 23,06% ở nội thành Hà Nội, năm 2007 chiếm 16,32 % đối với cả nước. Các vùng miền khác nhau cũng có sự khác nhau về số bệnh nhân mắc bệnh cao huyết áp, cao nhất là thành thị 23,3%, duyên hải 16,6%, đồng bằng 12,4%, trung du là 13,9%. Ở miền bắc bệnh tăng huyết áp chiếm 22,7 %,ở nông thôn là 12,4%, một số khu vực thành thị có tỉ lệ người bệnh cao như thành phố Vinh ( Nghệ An) 31,9%, tiếp theo là Hà Nội 23,3 %, thị xã Thái Bình 20,1 %, thành phố Thái Nguyên 16,2%. Việt Nam là nứoc có tỉ lệ người nghiện thuốc lá vào loại cao trên thế giới, trong khi mối liên hệ giữa thuôc lá bệnh nhồi máu cơ tim là rõ rệt, tỉ lệ béo phì ở nước ta luôn tăng, đặc biệt là ở trẻ em tăng từ 2,2% lên 7,9% chỉ trong vòng 2 năm trở lại đây. Hàng năm trung bình Việt Nam có thêm 16.400 trẻ sơ sinh trào đời mắc bệnh tim bẩm sinh. Vai trò ứng dụng của NVCTXH đối với người bị bệnh tim Những NVCTXH làm việc với bệnh nhân bị bệnh tim sẽ làm việc trong các bối cảnh cá nhân cũng như môi trường y tế nơi bệnh nhân đang được điều trị, vai trò cơ bản là cung cấp dịch vụ, tìm kiếm nguồn lực trong xã hội giúp đỡ bệnh nhân điều trị căn bệnh của họ, tham vấn, tư vấn cho bệnh nhân và gia đinh của họ vượt qua được vấn đề về cảm xúc tâm lí. CSSK ban đầu và đóng vai trò tuyên truyền sức khoẻ về căn bệnh tim và cách phòng chống trong cộng đồng. NVCTXH sẽ nằm trong đội ngũ liên ngành( bác sĩ, y ta,nhà tâm lí…) tham gia trong quá trình điều trị cho bệnh nhân, vai trò của NVCTXH là Tham gia vào quá trình gặp gỡ của nhóm chuyên gia bác sĩ Tham gia các cuộc gặp gỡ để định hướng cho bệnh nhân thực hiện đánh giá tâm lí Thực hành hỗ trợ tham vấn tích cực Trở thành một nguồn thông tin về các nguồn lực và lựa chọn thay thế Đóng vai trò hỗ trợ hoạt động và tư vấn cho các nhóm hỗ trợ, các nhà tham vấn trên điện thoại Hỗ trợ bệnh nhân trong việc thanh toán viện phí và bảo NVCTXH sẽ tham gia thảo luận cùng nhóm chuyên gia, để luôn nắm được tình hình diễn biến về căn bệnh của thân chủ, NVCTXH có thể cung cấp những thông tin có liên quan đến bệnh nhân và những dịch vụ hỗ trợ cho bệnh nhân. NVCTXH sẽ định hướng, cụ thể là sẽ giúp bệnh nhân chuẩn bị cho bệnh nhân việc đối mặt với những căng thẳng tâm lí, nhắc nhở về chi phí điều trị là rất cao nhưng không đảm bảo tuyệt đối cho mức độ thành công và trao đổi về vai trò của nhà tham vấn trong quá trình điều trị. NVCTXH đóng vai trò tham vấn tích cực, để bệnh tim khỏi được cần phải tiến hành mổ,nhưng khả năng thành công còn tuỳ thuộc vào mức độ sức khoẻ của bệnh nhân do đó trong suốt quá trình điều trị sẽ gây ra những căng thẳng nghiêm trọng cho bệnh nhân và người nhà của họ, tuy nhiên chúng ta dẽ nhận thấy mỗi bệnh nhân có sự khác biệt riêng nên NVCTXH cần phải điều chỉnh mức độ can thiệp của mình với từng trường hợp và nhu cầu cụ thể. Đối với những bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn không đử khả năng chi trả viện phí và ca phẫu thuật NVCTXH sẽ giúp họ tìm kiếm những nguồn hỗ trợ cho điều trị bênh tim trong xã hội. Ngoài ra NVCTXH sẽ hỗ trợ về bảo hiểm như những câu hỏi về mức chi trả của bảo hiểm, yêu cầu trợ giúp với các mẫu đăng kí bảo hiểm và những yêu cầu từ những công ty bảo hiểm chính là những nhiệm vụ của NVCTXH, người sẽ chịu trách nhiệm soạn thảo thư từ hoặc thay mặt bệnh nhân gọi điện cho công ty bảo hiểm để đảm bảo quyền lợi cho bệnh nhân mình phụ trách. 5 .Những tiềm năng ứng dụng và phát triển vai trò của NVCTXH Có thể khẳng định tiềm năng ứng dụng và phát triển vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực CSSK nói chung và đối với bệnh nhân bị bệnh tim nói riêng là vô cùng lớn, như chúng ta đã biết bệnh viện và các cơ sở y tế hiện nay luôn ở trong tình trạng quá tải vì số người phải nhập viện tăng theo từng năm, bệnh viện hiện nay còn thiếu đội ngũ những nhân viên đóng vai trò hỗ trợ bệnh nhân, cung cấp những thông tin về bệnh nhân và các dịch vụ xã hội, hỗ trợ tâm lí cho người bệnh trong quá trình điều trị, để thực hiện những công việc đó cần đến vai trò của nhân viên CTXH. Vì vậy trong hiện tại và tương lai bệnh viện và các cơ sở y tế rất cần đến đội ngũ nhân viên công tác xã hội dảm nhiệm vai trò trung gian giữa bệnh nhân và bệnh viện cùng những dịch vụ xã hội có liên quan. Những triển vọng và tiềm năng ứng dụng và phát triển vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực điều trị bệnh tim là vô cùng lớn, bởi số ngưòi bị mắc căn bệnh này luôn tăng và họ rất cần sự hỗ trợ của cộng đồng và NVCTXH sẽ đóng vai trò là cầu nối giữa họ và cộng đồng giúp họ tiếp cận với các dịch vụ CSSK, mặt khác số bệnh nhân bị bệnh tim không ngừng tăng trong các năm sẽ gây ra nhiều áp lực cho xã hội và gia đình của bệnh nhân. Ở nước ta là 1 nước đang phát triển còn gặp nhiều vấn đề khó khăn, chư cho phép người dân tiếp cận vơi những thông tin liên quan đến việc bảo vệ,phòng tránh những căn bệnh nguy hiểm nói chung và bệnh tim nói riêng, trên thực tế khảo sát của bộ y tế cho biết đa số những người bị bệnh tim đều là người nghèo không có khả năng chi trả viện phí và phẫu thuật bệnh tim nhiều trẻ em nghèo và ngưòi nghèo bị bệnh tim chỉ có cách nằm chờ chết. Điều này là một thách thức lớn cho những NVCTXH làm việc với bệnh nhân tim trong tương lai khi tham gia tìm kiếm nguồn lực, dịch vụ hỗ trợ cho bệnh nhân, nhưng xã hội hiện nay đã và đang quan tâm tới căn bệnh này và vai trò của nhân viên công tác xã hội. Tôi tin trong tương lai không xa NVCTXH sẽ làm được nhiều hơn để giúp cho người bệnh và xã hội Tiềm năng với bệnh nhân mắc bệnh tim mà NVCTXH có thể thực hiện vai trò ưng dụng của mình dược thể hiện trong lĩnh vực hỗ trợ tâm lí cho bệnh nhân và người nhà của họ, bởi khi mang căn bệnh này trong người, bệnh nhân rất dễ bị khủng hoảng tâm lí họ luôn căng thẳng, sợ hãi, nhiều người thậm chí khóc lóc, bi quan, suy nghĩ tiêu cực tìm đến cái chết để mong đựoc giải thoát vì nghĩ rằng mình là gánh nặng cho ngưòi thân ảnh hưỏng không nhỏ đến diễn biến của bệnh và ngưòi thân của họ, gia đình của bệnh nhân thì luôn lo âu, buồn phiền…Vai trò của NVCTXH khi này là tham vấn, tư vấn cho bệnh nhân và ngưòi nhà của họ thoát khỏi khủng hoảng về mặt tâm lí. Có thể khái quát những lĩnh vực mà tiềm năng ứng dụng của NVCTXH trong chăm sóc bệnh nhân bị bệnh tim có thể phát triển là. NVCTXH làm việc trong bệnh viện, làm việc trong tổ đội đa thành viên trong quá trình điều trị cho bệnh nhân. Làm việc trong các trung tâm tư vấn đóng vai trò cầu nối giưa bệnh nhân và bệnh viện,cộng đồng. Những khía cạnh mà NVCTXH thựchành có thể mở rộng trong quá trình làm việc với bệnh nhân bị bệnh tim - Tìm kiếm phát triển các nguồn tài nguyên dịch vụ CSSK hỗ trợ cho ngưòi bệnh. - NVCTXH làm viẹc trong bệnh viện, là cầu nối cho bệnh nhân với đội ngũ điều trị - NVCTXH giảng dạy cho bệnh nhân và ngưòi nhà của họ, nhân viên, cộng đồng về khía cạnh tâm lí xã hội về những căn bệnh hiểm nghèo nói chung và bệnh tim nói riêng. Điều này cũng bao gồm việc dạy cho họ những yếu tố phòng ngừa bệnh tim như cách ăn uống, tập thể dục, choi thể thao… - NVCTXH đóng vai trò là một cán bộ tuyên truyền cho cộng đồng về chăm sóc sức khoẻ ban đầu, các nguyên nhân, cách phòng chống các căn bệnh hiểm nghèo. Họ sẽ là thành viên của các diễn đàn, các cuộc hội thảo đa thành viên, những chương trình dịch vụ và có trách nhiệm chia sẽ với những người khác về chuyên môn của mình. III. Kết luận: Tóm lại tiềm năng ứng dụng và phát triển vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nói chung và chăm sóc cho người bệnh bị bệnh tim nói riêng là vô cùng lớn và có triển vọng để trở thành một chuyên nghành đặc thù mang tính ứng dụng cao. Xã hội nước ta hiện nay càng ngày càng quan tâm đến vấn đề sức khoẻ cho nhân dân, đặc biệt là các bệnh viện, phòng khám để chữa trị bệnh tim ngày càng nhiều. Cụ thể là: Nước ta có một Hội tim mạch quốc gia, 18 trường Đại học Y, 12 trung tâm tim mạch hoặc viện tim mạch, có 37 bệnh viện tim có chuyên khoa tim mạch riêng, có 17 trung tâm, bệnh viện có khả năng can thiệp tim mạch, 12 trung tâm có khả năng mở tim hở, dùng tuần hoàn ngoài cơ thể. Như vậy, có thể nói bệnh tim mạch ở Việt Nam đang là một vấn đề lớn. Để giảm thiểu bệnh trong dân số cần sự tham gia của nghành tim mạch, toàn xã hội, đặc biệt cần đến vai trò hỗ trợ của NVCTXH đối với quá trình điều trị và giảm tỷ lệ người mắc bệnh tim trong xã hội. Tài liệu tham khảo: Tập bài giảng môn Công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ Trang web: www.dantri.com Trang web: www.vietnam.net Trang web: www.phongmach.com Trang web của Thông tấn xã Việt Nam 6. Tạp chí y học số 42, Tháng :6/2001 Nguyễn Như Quỳnh (24/5)
|
|
|
|
|
Logged
|
Ta không thể dạy người khác cái gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ ( Galileo Galile 1564-1642 )
|
|
|
|
^^aby^^
|
 |
« Trả lời #2 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2008, 04:56:12 AM » |
|
.Mở đầu:
Trong những năm gần đây số lượng người nhiễm HIV- AIDS không những không giảm xuống mà ngày càng gia tăng, cùng với nó là không biết bao nhiêu người phải chết vì căn bệnh thế kỷ này. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của nước ta. Hiện nay với việc đào tạo và phát triển của nhiều nghành nghề xã hội hỗ trợ cho các căn bệnh xã hội thì HIV/ AIDS cũng nằm trong số đó. Do vậy với việc phát triển nghành Công tác xã hội trong những năm gần đây thì đã đáp ứng được nhu cầu xã hội trong việc giúp đỡ những người yếu thế và những người gặp phải những vấn đề khó khăn. Người nhiễm HIV/AIDS cũng nằm trong số những đối tưọng trong xã hội cần được sự quan tâm và giúp đỡ nhiều của xã hôi. Do vậy trong bài viết này tôi muốn đề cập đến “Tiềm năng ứng dụng và phát triển vai trò công tác xã hôi trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho người bị nhiễm HIV/AIDS” . Với sự phát triển và giúp sức của nghành Công tác xã hội trong thời gian tới thì chúng ta mong rằng tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS sẽ giảm xuống và giảm bớt sự kỳ thị trong cộng đồng.
II. Nội dung:
Khái niệm công cụ: Công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ là gì: NVCTXH trong lĩnh vực CSSK là giúp đỡ bệnh nhân thích nghi với bệnh tật và những thay đổi trong thời gian điều trị hay nhập viện, đồng thời tham vấn, tư vấn về mặt tâm lí cho bệnh nhân và người nhà của họ những khó khăn trở ngại khủng hoảng về mặt tâm lí do bệnh tật gây ra,và giúp bệnh nhân tìm kiếm các nguồn lực tài nguyên trong xã hội hỗ trợ việc điều trị căn bệnh của họ.
Khái niệm về HIV- AIDS: HIV là: là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immununodeficiency” là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh.
AIDS là: tên bệnh gọi tắt là tiếng Anh: Acquired Immune Deficiency Syndrome. Tên tiếng Pháp là SIDA, có nghĩa là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn tới tử vong.
2.Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ:
Nếu một nhân viên CTXH muốn xem xét các kiểu vai trò và các hoạt động thường có trong lĩnh vực CSSK, người đó có thể thấy có cả một danh sách. Tuy nhiên đối với nghành CTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ ở Việt Nam thì nhân viên CTXH :
Nếu làm trong bệnh viện thì Nhân viên CTXH trở thành người thứ hai, sau bác sĩ, hỗ trợ cho bệnh nhân được tiếp cận các dịch vụ chữa trị một cách tốt nhất và hiệu quả, hỗ trợ cho người bác sĩ chữa bệnh cho bệnh nhân một cách tốt nhất, cung cấp các dịch vụ xã hội cho bệnh nhân. Ta có thể thấy được rằng tuỳ từng vai trò của nhân viên CTXH như thế nào thì nhân viên CTXH sẽ đảm nhận các công việc phù hợp với vai trò của mình.
Nếu nhân viên CTXH mở phòng khám riêng thì có vai trò là người điều phối và đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình điều trị cho bệnh nhân.Nếu bệnh nhân gặp các căn bệnh về thực thể thì ta có thể giúp bệnh nhân tiếp cận và chữa trị tại bác sĩ, nếu bệnh nhân gặp phải các căn bệnh về tâm lý nằm ngoài khả năng điều trị của nhân viên CTXH thì có thể giới thiệu đến bác sĩ tâm lý ( Vì ta biết rằng có nhiều vấn đề tâm lý mà nhân viên CTXH vẫn có thể khả năng tham vấn và tư vấn cho bệnh nhân). Chúng ta có thể cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bệnh nhân về ( Kinh tế, thuốc men…). Sau quá trình điều trị tại các bác sĩ thực thể và bác sĩ tâm lý thì bệnh nhân lại quay trở về với chúng ta và tiếp tục quá trình điều trị cho đến khi bệnh nhân có thể thích ứng được với căn bệnh của mình hay sau khi khoẻ mạnh.
Ta có thể thấy rằng CSSK vẫn đang đầy sự căng thẳng. Như một tác giả đã nêu “ngày hôm qua thế giới bị “kiểm toán”, ngày nay là nội hàm của nó” (Nacman, 1980,tr.11). Với sự chú ý ngày càng cao của các nhà quản trị CTXH tới việc đảm bảo chất lượng và sự minh bạch, và nhu cầu của khách hàng ngày càng cao về các dịch vụ y tế hiệu quả, sẵn có và dễ tiếp cận, thì nhân viên CTXH cần phải định rõ vai trò và vị trí của mình trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ
3.Điểm qua về số lượng người nhiễm HIV của nước ta trong thời gian gần đây:
Theo thông báo của Bộ Y tế cho thấy mỗi năm có thêm khoảng 40 ngàn người lây nhiễm HIV. Bộ Y tế vừa công bố số liệu nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam đến hết năm 2004 là 88.393 trường hợp. Trong đó, cứ 6 người thì có một người chuyển sang giai đoạn AIDS hoặc tử vong. Nguy cơ này càng cao khi Việt Nam ở giữa một khu vực có HIV/AIDS cực căng. Trên thực tế, con số này lớn hơn nhiều bởi có nhiều trường hợp chưa phát hiện. Và từ nay đến năm 2010, trung bình mỗi năm, Việt Nam có thêm 20.000-30.000 người nhiễm mới. Mặc dù tỷ lệ HIV ở Việt Nam thấp hơn mức báo động. Tuy nhiên nhiều tỉnh đã vượt qua “vạch đỏ”, bệnh cũng đã xuất hiện ở hầu hết các tầng lớp xã hội. Cụ thể là: đối tượng nhiễm HIV/AIDS không chỉ tập trung ở những người có nguy cơ cao mà còn xuất hiện trong nhóm phụ nữ mang thai và trẻ em, HIV/AIDS đã đi về miền núi, vùng sâu, vùng xa, lan rộng tới các tầng lớp không thuộc diện có nguy cơ cao như học sinh, sinh viên, tân binh, giới công chức, thậm chí nông dân cũng bị lây nhiễm HIV. Đối tượng nhiễm HIV.AIDS ngày càng có xu hướng “trẻ hoá”( 95% trường hợp nhiễm HIV/AIDS ở lứa tuổi 15-49, trong đó ở độ tuổi 20-29 chiếm tới 55,26%), 64 tỉnh, thành phố trên toàn quốc đều có người nhiễm HIV/AIDS. Tại Tp HCM, tỷ lệ nhiễm lên tới 1,2%, ở Hải Phòng và Quảng Ninh con số này là 1,1%. Điều đang xảy ra với TP HCM có thể xảy ra trên toàn quốc trong vòng 4 năm sau.
4.Đặc điểm của người nhiễm HIV – AIDS:
Đa số những người nhiễm HIV trong giai đoạn đầu thường không có biểu hiện gì ra bên ngoài để người khác có thể biết được, thậm chí là các bác sĩ khám bệnh tổng quát. Một số trường hợp khi mới nhiễm HIV có thể sốt, nổi hạch đỏ trong 8 đến 10 ngày rồi trở lại bình thường rất giống với các bệnh cảm cúm thông thường nên không có đặc điểm gì riêng để nhận biết. Vì vậy, đối với nhiễm HIV có thể xem như không có triệu chứng nào là triệu chứng đầu tiên để biết đã bị nhiễm.
Nhìn chung, ở người nghiện chích ma tuý nhiễm HIV, diễn tiến từ nhiễm HIV không triệu chứng sang giai đoạn AIDS cũng tương tự như những nhóm nguy cơ khác. Ở những bệnh nhân này, số lượng tế bào CD4 giảm không khác với nhóm đàn ông đồng phái luyến ái. Qua nhiều nghiên cứu người ta cũng thấy rằng tỉ lệ giảm số lượng tế bào lymphô CD4 không chịu ảnh hưởng bởi số lần sử dụng ma túy và uống rượu. Nhiều nghiên cứu đoàn hệ (cohort studies) cũng không tìm thấy sự khác biệt về diễn tiến từ nhiễm HIV không triệu chứng sang giai đoạn AIDS ở ba nhóm nghiện chích ma túy, đồng phái và khác phải luyến ái. Ở giai đoạn tiền AIDS, người nghiện chích ma túy hình như có nhiều nguy cơ mắc bệnh và tử vong do các bệnh nhiễm trùng. Ở thành phố Mew York, người nghiện chích ma tuý bị nhiễm HIV có tỉ lệ tử vong vì viêm phổi do vi trùng, viêm nội tâm mạc, lao phổi nhiều hơn là người không nhiễm HIV. Một cuộc nghiên cứu khác ở Edinburgh cho thấy người nghiện chích ma túy bị nhiễm HIV tử vong cao ở giai đoạn tiền AIDS vì quá liều thuốc, kế đến là nhiễm trùng huyết và bệnh gan. Bệnh cảnh lâm sang của nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy không có gì đặc biệt lắm. Tỉ lệ tử vong của bệnh nhân kể từ khi chẩn đoán AIDS không khác biệt quan trọng giữa hai nhóm nghiện và không nghiện ma túy. Tiên lượng phụ thuộc vào các biểu hiện của bệnh AIDS nhiều hơn là hành vi nguy cơ.
Tóm lại, trên người nghiện chích ma túy bị nhiễm HIV, một số bệnh cần lưu ý là:
- Tỉ lệ bị nhiễm trùng hô hấp do S.pneumaniae, H.influemzae cao và thường xuất hiện sớm trong tiến trình nhiễm HIV.
- Nguy cơ mắc bệnh lao cao gấp 3 lần so với nhóm đồng phái luyến ái.
- Tỉ lệ bị sarcôm Kaposi rất thấp.
Ngoài ra chúng ta cần lưu ý đến những bệnh lý có liên quan đến tiêm chích ma túy như biểu hiện thần kinh tâm lý bất thường (đôi khi bị che lấp bởi tác dụng của ma túy), tình trạng quá liều thuốc, viêm gan siêu vi B và C. Tất cả những điều này ảnh hưởng không nhỏ trên sự chọn lựa biện pháp điều trị cũng như tiên lượng bệnh.
5.Vai trò của nhân viên CTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho người nhiễm HIV – AIDS:
Trong phạm vi của bài tiểu luận này, tôi muốn đề cập đến vai trò của nhân viên CTXH ở một phòng khám riêng của mình thì làm những công việc gì. Như phần trên tôi đã giới thiệu thì với một nhân viên CTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho người nhiễm HIV – AIDS tại phòng khám của mình thì đóng một vai trò rất quan trọng, cụ thể là: Cung cấp các dịch vụ cho người nhiễm HIV; tham vấn - hỗ trợ tâm lý cho người nhiễm HIV – AIDS và người nhà của người nhiễm HIV – AIDS; Tuyên truyền phổ biến kiến thức cho cộng đồng về bệnh HIV – AIDS và người bị nhiễm HIV – AIDS.
a.Cung cấp các dịch vụ xã hội cho người nhiễm HIV:
Hiện nay có rất nhiều dịch vụ xã hội đối với người nhiễm HIV – AIDS. Tuy nhiên với vai trò là người điều phối viên của phòng khám, tôi muốn cung cấp đến thân chủ của tôi một số dịch vụ xã hội cơ bản sau:
***Nơi cung cấp thuốc ARV:
ARV không phải là thuốc có thể chữa khỏi được bệnh HIV – AIDS mà chỉ có tác dụng kìm hãm sự sự phát triển của vi rút HIV trong cơ thể nhằm kéo dài sự sống.Hiện nay ở nước ta việc cung ứng thuốc hoàn toàn dựa vào hệ thống y tế sẵn có chứ chưa có hệ thống riêng biệt nào cho việc điều trị căn bệnh này. Hiện nay chỉ có 40 điểm thuộc 20 tỉnh của dự án quỹ toàn cầu có thuốc ARV.
Theo PGS Trịnh Quân Huấn, thứ trưởng bộ Y tế cho biết: “Hiện tại Việt Nam chỉ khoảng 30% người có HIV được cung cấp và điều trị bằng thuốc ARV”. Như vậy ta có thể thấy rằng, số lượng người nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc ARV là rất thấp so với nhu cầu của họ. Hiện nay mới chỉ có khoảng 7.000 người có HIV được điều trị bằng thuốc ARV thông qua nhiều kênh khác nhau như các dự án tài trợ, các chương trình quốc gia. Riêng thuốc mua từ nguồn ngân sách nhà nước trong năm 2006 đủ cung cấp cho khoảng 1.000 bệnh nhân.
Theo đề xuất thì mỗi địa phương được cấp khoảng 30 – 60 liều. Do vậy đối với những bệnh nhân thuộc gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn thì chúng ta cần phải cập nhận thông tin để thông báo cho bệnh nhân biết các chính sách cũng như thủ tục để được xin cấp thuốc ARV, vì chúng ta biết rằng thuốc ARV là rất đắt, với những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì việc mua thuốc ARV vượt ngoài phạm vi của họ.
Cũng do nguồn thuốc ARV rất hiếm cho nên với vai trò của một nhân viên CTXH chúng ta có vai trò: Tìm và tận dụng những nguồn cung cấp thuốc ARV miễn phí cho nhân dân hoặc từng địa phương; Giới thiệu thủ tục xin cấp thuốc ARV đặc biệt ở những trường hợp đặc biệt cần gấp thuốc ARV thì nhân viên CTXH có thể thay mặt bệnh nhân của mình làm hộ giấy tờ cho họ hoặc cũng có thể hỗ trợ , giúp đỡ họ làm giấy tờ; Tìm các cơ sở y tế của Nhà nước, bán thuốc ARV có chất lượng để giới thiệu cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân được biết để trách trường hợp mua phải thuốc ARV kém chất lượng.
Trước hết chúng ta cần phải giúp họ tận dụng nguồn cung cấp miễn phí thuốc của Nhà nước.Hiện nay thủ tục xin thuốc ARV ở nước ta được thực hiện như sau: Tìm gặp các Trưởng trạm Y tế phường hoặc xã, hoặc người chuyên trách phòng chống tệ nạn xã hội nơi mình ở, trình bày việc bản thân hoặc thân nhân có HIV và muốn xin thuốc điều trị miễn phí. Hiện này, Phường hoặc Xã là đơn vị sau cùng của hệ thống Y tế Nhà nước và Trạm trạm Y tế Phường hoặc Xã sẽ là chuyên trách AIDS của Phường hoặc Xã đó; do vậy, người này sẽ biết và hướng dẫn mọi người. Các bạn có thể yên tâm về việc bảo mật bằng cách xác định với nhân viên Y tế là: Chỉ có anh (hoặc chị) và tôi biết về việc tôi có HIV.Trưởng trạm Y tế Phường hoặc Xã nơi bệnh nhân cư trú sẽ hướng dẫn bệnh nhân đến Văn phòng Thường trực Phòng chống AIDS của Tỉnh hoặc Trung tâm Tham vấn hỗ trợ Cộng đồng (OPC) hoặc các Bệnh viện, các điểm có điều trị bằng ARV. Các nơi điều trị sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết để điều trị. Trong những trường hợp khẩn cấp bệnh nhân có thể nhờ nhân viên CTXH can thiệp giúp cho quá trình hoàn thành thủ tục được nhanh hơn nhờ vào khả năng của nhân viên CTXH.
Đối với những gia đình bệnh nhân có điều kiện kinh tế tốt thì có thể tự mua được thuốc ARV cho quá trình điều trị. Tuy nhiên nhân viên CTXH cũng cần hướng dẫn cho các cơ sở cũng như các trung tâm bán thuốc ARV có uy tín của Nhà nước. Có như vậy mới đảm bảo chất lượng của thuốc ARV trong quá trình điều trị.
*** Các dịch vụ Y tế cho người nhiễm HIV – AIDS và bà mẹ bị nhiễm HIV – AIDS: Trong lĩnh vực này ta có thể thấy vai trò của nhân viên CTXH thể hiện ở các mặt sau: Nhân viên CTXH cần phải cập nhật thông tin về các chính sách BHYT của Nhà nước đối với người nhiễm HIV/AIDS đê cung cấp cho bệnh nhân. Giúp cho bệnh nhân có thể tận dụng tốt sự hỗ trợ của Nhà nước bằng các chương trình khám bệnh và cấp phát thuốc ARV miễn phí, hay giới thiệu các cơ sở Y tế có chính sách ưu tiên trong điều trị người nhiễm HIV/AIDS cho bệnh nhân. Đối với những đối tượng bệnh nhân là đang mang thai mà nhiễm HIV/AIDS thì nhân viên CTXH có thể tìm hiểu các trung tâm nào có khám xét nghiệm miễn phí cho bà mẹ, và các trung tâm nào có các chương trình điều trị, hỗ trợ cho bà mẹ nhiễm HIV/AIDS nhằm phóng tránh việc mang mầm bệnh HIV/AIDS cho con.Những vai trò này được cụ thể như sau:
Ta biết rằng hiện nay trong Luật Phòng chống HIV/AIDS (bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/2007) BHYT sẽ chi trả một phần cho những người nhiễm HIV. Mặc dù hiện nay BHYT chưa thống kê đầy đủ có bao nhiêu bệnh nhân được hưởng quyền lợi do BHYT chi trả. Tuy nhiên chúng ta vẫn cần phải cập nhật thông tin này cho gia đình và người bệnh(đặc biệt là những gia đình không có điều kiện kinh tế) được biết để có thể tận dụng được những nguồn bảo hiểm miễn phí của Nhà nước. Chúng ta cũng phải tận dụng những ngày khám xét nghiệm miễm phí của Nhà nước để thông báo cho bệnh nhân biết nhằm khám xét nghiệm HIV/AIDS, điều này đặc biệt quan trọng đối với những gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn vì ta biết rằng nếu bình thường mỗi lần khám và xét nghiệm HIV/AIDS mất khoảng 40 – 60 nghìn đồng. Việc tận dụng những dịch vụ khám xét nghiệm miễn phí sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân khám bệnh nhiều hơn.
Ở TP Hồ Chí Minh vài ngày 23/8/2005, UBND TP HCM đã chính thức triển khai chương trình chăm sóc, điều trị miễn phí cho người nhiễm HIV/AIDS tại TP HCM, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho những người nhiễm tự nguyện tham gia chương trình. Việc đầu tư cho chương trình này cũng rất bài bản với 19 phòng khám ngoại trú điều trị ARV được trang bị khá hiện đại, cùng với hệ thống quản lý thông tin miễn phí, chức năng bảo mật thông tin bệnh nhân, cơ số thuốc điều trị có thể điều trị cho khoảng 3.000 người, chi phí điều trị khoảng 1.300 USD/năm/người. So với chi phí điều trị như thế này ta biết rằng Nhà nước đã bảo đảm cho bệnh nhân nhiều trong khi điều trị. Đây là một thông tin mà Nhân viên CTXH cần phải biết và cung cấp cho bệnh nhân của mình. Vì trong những năm đầu, số lượng điều trị của phòng khám này không nhiều cũng vì rất ít người biết được thông tin này đặc biệt là những người có điều kiện kinh tế khó khăn.
Ta biết rằng hiện nay số lượng bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS từ mẹ sang con rất là nhiều. Điều này đã được xã hội quan tâm và đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ cho những bà mẹ có thể có những điều kiện thuận lợi và tốt nhất để có thể sinh ra những đứa con hoàn toàn khoẻ mạnh. Do vậy Chương trình dự phòng lây từ mẹ sang con đã được ra đời. Mục tiêu của Chương trình Dự phòng lây từ mẹ sang con là giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang. Mẹ nhiễm HIV và con được chăm sóc và điều trị lâu dài bằng thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội và ARV. Muốn đạt được mục tiêu đó, cần tăng cường vận động, khám thai sớm ngay sau khi nghi ngờ mang thai, để tham vấn cho thai phụ về HIV, để thai phụ tự xét nghiệm HIV tại khám xét nguyện HIV cho bà mẹ. Nếu xét nghiệm âm tính, thai phụ được chuyển về chương trình chăm sóc, quản lý thai như bình thường. Nếu kết quả xét nghiệm dương tính, chuyển mẫu đến Trung tâm Y tế dự phòng, viện Pasteur, hoặc các sở Y tế của thành phố cho phép để thực hiện hai test khẳng định tình trạng nhiễm HIV của thai phụ. Nếu kết quả khẳng định âm tính, tham vấn và hướng dẫn bà mẹ tiếp tục tham gia chương trình chăm sóc quản lý thai bình thường. Nếu kết quả khẳng định dương tính đối với những bà mẹ có thai nhỏ hơn 12 tuần tuổi, thực hiện tham vấn sau xét nghiệm để bà mẹ quyết định giữ thai hay bỏ. Nếu bà mẹ quyết định giữ thai, đưa bà mẹ vào chương trình điều trị Dự phòng lây truyền mẹ- con bằng ARV. Bà mẹ được điều trị ARV cho đến lúc sanh, sau khi sinh bà mẹ được chuyển qua chương trình điều trị ARV miễn phí của thành phố, trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV dương tính được điều trị dự phòng lây nhiễm theo phác đồ điều trị của Bộ Y tế, đứa trẻ được xét nghiệm và điều trị ARV ngay từ khi ra khỏi bụng mẹ đến 18 tháng tuổi. Ta biết rằng hiện nay những bà mẹ nhiễm HIV có thai được khám xét nghiệm miễn phí tại tất cả các cơ sở khám xét nghiệm của Nhà nước và cung cấp thuốc ARV miễn phí trong quá trình mang thai, được cung cấp sữa cho con trong vòng 6 tháng đầu. Đây là những thông tin không phải ai cũng nắm bắt được, vì vậy nhân viên CTXH cần phải cập nhật liên tục nhằm cung cấp cho bệnh nhân những dịch vụ xã hội tiện lợi và tốt nhất….
Tuy nhiên trong quá trình cung cấp các dịch vụ Y tế cho bệnh nhân thì chúng ta cũng phải lưu tâm đến những trung tâm Y tế không được khẳng định kết quả HIV, đó là: 6 Trung tâm Y tế dự phòng của tỉnh Cao Bằng, Lai Châu (cũ), Quảng Ninh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bạc Liêu không được khẳng định kết quả HIV dương tính. Nhằm tạo nên sự tin tưởng của người bệnh vào hệ thống khám xét nghiệm của Bộ Y tế.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ta không thể dạy người khác cái gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ ( Galileo Galile 1564-1642 )
|
|
|
|
^^aby^^
|
 |
« Trả lời #3 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2008, 04:57:16 AM » |
|
*** Các trung tâm cai nghiện: Các trung tâm cai nghiện của cả nước hiện vẫn còn 30-40% không đủ điều kiện về cơ sở vật chất để đảm bảo quy trình cai nghiện và tổ chức các hoạt động dạy văn hóa, dạy nghề, lao động sản xuất cho học viên; nhiều địa phương thực hiện việc cai nghiện (thời gian 1 năm) nặng về quản lý hành chính hoặc lao động bắt buộc nên hiệu quả không cao. Hiện nay các trung tâm cai nghiện này vẫn chưa có chính sách miễn phí đối với những người trong gia đình tự nguyện đi cai nghiện, do vậy nó cũng làm cho số lượng người nghiện HIV đi cai nghiện là ít hơn nhiều so với thực tế. Do vậy trong quá trình cung cấp các trung tâm cai nghiện cho bệnh nhân thì chúng ta cần phải nắm bắt được những thông tin cơ bản nhất của trung tâm đó, và biết được nhiều trung tâm cai nghiện, đặc biệt là những trung tâm cai nghiện gần khu vực mình đang sinh sống, với những tiêu chuẩn chất lượng nhất định và điều kiện kinh tế cho phép của bệnh nhân. b. Tham vấn- hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS và người nhà bệnh nhân: Ta có thể thấy rằng mặc dù người nhiễm HIV có thể biết rồi đến một lúc nào đó mình cũng sẽ mắc phải căn bệnh thế kỷ này. Nhưng khi biết được kết quả xét nghiệm âm tính thì hầu hết đều khủng hoảng tâm lý trầm trọng, dễ phản ứng liều lĩnh, có hại cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội bởi vì HIV chưa có thuốc chữa, một khi đã nhiễm thì suốt đời và khi phát bệnh thì chắc chắn chết 100%. Người nhà bệnh nhân thì sửng sốt. Do vậy trong quá trình đấu chọi với bệnh tật người bệnh gặp rất nhiều khó khăn về tâm sinh lý do chính mình tạo ra và do cách đối xử của gia đình hoặc của những người xung quanh làm cho họ có nhiều thay đổi về tâm sinh lý. Người nhà bệnh nhân trong quá trình chăm sóc bệnh nhân cũng gặp nhiều khó khăn do tính khí thất thường của người bệnh, do mệt mỏi trong quá trình chăm sóc, do sự kỳ thị xa lánh của mọi người xung quanh, áp lực về tiền điều trị cho bệnh nhân…tất cả tạo nên những áp lực tâm lý khó có thể giãi bày cùng ai của bệnh nhân và cả người nhà bệnh nhân Từ những điều trên với vai trò là một điều phối viên của một trung tâm thì chúng ta cần phải có trách nhiệm hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân giúp cho họ ngăn ngừa sự lan truyền bệnh trong cộng đồng và giúp người bệnh sống có ích, có ý nghĩa trong những năm tháng còn lại, và giúp cho người nhà bệnh nhân có khả năng chăm sóc bệnh nhân một cách tốt nhất. Với vai trò là một nhân viên CTXH, chúng ta vẫn có thể tiến hành tham vấn cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân nếu như sự khủng hoảng tâm lý của họ chưa quá trầm trọng. Tham vấn là một quá trình đối thoại và tương tác giữa tham vấn viên và thân chủ, giúp xác định một vấn đề, giải quyết một khủng hoảng và quyết định một kế hoạch hành động. Nhằm giúp thân chủ tự khám phá, tự tìm hiểu, tự quyết định và có hành động tích cực, làm chủ được cảm xúc, cư xử có trách nhiệm thích nghi với hoàn cảnh mới và duy trì các mối quan hệ. Đối với người nhà bệnh nhân thì tham vấn giúp cho quá trình họ có thể giãi bày tâm sự với một ai đó, cung cấp những đặc điểm tâm lý đằng sau những hành động của người nhiễm HIV để có thể giúp đỡ bệnh nhân tốt hơn…. Trong quá trình tham vấn chúng ta cần phải biết được tâm sinh lý của người nhiễm HIV, đó là khi biết mình bị nhiễm HIV, người ta sẽ không tránh khỏi bị sốc. Trong trạng thái sống họ có thể có nét mặt hốt hoảng, dường như muốn ngất đi, im lặng, nói những điều vô nghĩa, thậm chí không thể nói lên được. Sau đó là cảm giác chối bỏ, do họ không tin là mình nhiễm HIV, họ có thể sẽ nghĩ rằng “có lẽ bác sĩ đã nhầm” hay “điều đó không thể xảy ra được, tôi cảm thấy rất khoẻ mạnh cơ mà”, Cảm giác chối bỏ được tạo ra bởi nỗi sợ hãi bị những người mình thương yêu từ bỏ. Một nhà tham vấn cần phải biết nhạy cảm với thân phận của thân chủ, cần phải giúp cho bệnh nhân đối diện được với sự thật rằng họ đang mang trong mình căn bệnh này, nhiễm HIV/AIDS có nghĩa là gì. Đây chính là cách tốt nhất để họ có thể vượt qua được sự chối bỏ của mình. Sau đó là các trạng thái cảm xúc bực tức, cáu gắt, họ tự trách móc bản thân hay người đã truyền HIV/AIDS cho họ. Thậm chí còn đổ lỗi cho Chúa Trời. Một người nhiễm HIV có thể rơi vào trạng thái mặc cảm và nghĩ rằng “Chúa Trời sẽ chữa khỏi bệnh cho mình nếu như mình thôi không quan hệ nữa”…Vai trò của chúng ta là cần giúp đỡ người nhiễm HIV chấp nhận sự thật, không nên đồng loã cũng như không nên thách thức những cảm xúc này. Sự sợ hãi vì cái chết sắp đến, sợ mất việc, sợ mất người mình yêu thương, sợ bị mọi người xa lánh…Là người tham vấn và người nhà bệnh nhân cần phải quan tâm đến người bệnh, giúp họ tham gia các CLB Đồng đẳng như Hoa hướng dương, nhóm Niềm tin…để họ có thể vui chơi, giải trí chia sẽ những khó khăn cũng như niềm vui của mình. Một người nhiễm HIV có thể có cảm giác cô đơn. Bao gồm việc tránh tiếp xúc với người khác, rút lui khỏi các hoạt động xã hội, nói ít…Giai đoạn này của người bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của gia đình bạn bè. Họ được hỗ trợ để hiểu rằng họ không cô đơn, có rất nhiều người khác cũng bị nhiễm HIV và họ vẫn sống rất tốt. Việc tham gia nhóm Đồng đẳng Hoa hướng dương…sẽ giúp họ$cảm nhận hơn về điều này.K聨i biết mình bị nhiễm HIV thì cảm thấy không còn lý do gì để sóng nữa. Họ cảm thấy mӬnh vô dụng,ࠠchỉ muốn ở îhà, không muốn ăn và nói ch䁵yệnРvới ai Gia đình cần phải quan耠tâm đến người nhiễm HIV, cơ quan làm việc cần phải tuâѮ thủ theo Luật lao động để người nhiễm HIV vẫn làm công việc của mình (trừ những cô䁮g việc có khả nănၧ lây truyền cho người khác cao) để họ cảm thấy"họဠvẫn có ích cho ࡸã hội, hay tham gia0các nhóm đồng đẳn, gi˺p đỡ cho những người cùng cảnh ngộ thì họ óẽ cảm thấy mình sống có ích hơn. Sau một thời ၧian thì h㻍 chấp nhận thực tế, họ bắt đầu bình an và suy nghĩ†cách sống mới của mìnɨ như thế nào và hy vọng"vãၯ tương lai® $ Đố với nhà tham vần cần phải hiểu được những đặc điểm này của bệnh nhân thì mới giúp cho quá trình tham vấn cho bệnh nhân đạt hiệu quả cao nhất mà giúp cho gia đình bệnh hiểu được tâm lý của người bệnh để có thể ứng phó được với những trạng thái tâm lý của người bệnh. Đối với bệnh nhân sự thấu hiểu và quan tâm chăm sóc của gia đình là nguồn cổ vũ động viên rất lớn giúp cho họ cố gắng sống tốt hơn. d.Tuyên truyền phổ biến kiến thức cho cộng đồng: Nhân viên CTXH cùng với các càn bộ Hội phụ nữ, hội thanh niên…xã/phường, nơi mà trung tâm đóng để tuyên truyền phổ biến những kiến thức chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong cộng đồng và những kiến thức cho người nhiễm HIV/AIDS Việc tuyên truyền phổ biến kiến thức cho cộng đồng có hai tác dụng chính đó là: giúp cho người dân hiểu hơn về căn bệnh HIV/AIDS, các䀠con đường lây truyền HIі/AIDS, các cơ sở khám xét nghiệmȠHIV, nơi cấp phátဠtɩuốã AђV…䁮hằm giúp cho cộng đồng phࣲng tránh nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và giảm bớt sự kỳ thị tr聯ng cộng đồng 0 Ta có thể thấy rằng, hiện nay nhất là những vùng nông thôn việc trang bị các kiến thức chăm sóc sức khoẻ ban đầu mà cụ thể là kiến thức về HIV/AIDS còn rất hạn chế, họ chưa biêt thuốc ARV là gì?, các con đường lây truyền HIV/AIDS…Do vậy sự kỳ thị trong cộng đồng đối với người nhiễm HIV là rất cao và nguy cơ lây nhiễm HIV trong cộng đồng ngày càng nhiều. Sự kỳ thị của họ được thể hiện bằng các hành động như: không ăn chung bát đũa với người nhiễm HIV/AIDs và người nhà họ; không nói chuyện; không bắt tay… Sự kỳ thị của cộng đồng đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng phòng và điều trị bệnh của người nhiễm HIV, họ không giảm nói mình bị bệnh HIV, cho nên nguy cơ lây càng cao và khả năng tiếp cận với các nguồn thuốc điều trị càng giảm. Do vậy hạn chế sự kỳ thị trong cộng đồng sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình điều trị và làm hạn chế số lượng người nhiễm HIV của nước ta. Hiện nay vấn đề kỳ thị trong cộng đồng đối với người nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam đang làm đau đầu nhiều cơ quan chức năng. Do vậy với vai trò là một nhân viên CTXH, chúng ta cần phải tuyên truyền về vấn đề này trong cộng đồng với mục tiêu chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân, giúp người dân biết rõ về nguyên nhân nhiễm HIV/AIDS, nguy cơ lây nhiễm cao ở những ai, cách phòng tránh, hậu quả của việc nhiễm HIV/AIDS. Cũng chính sự hiểu rõ về HIV/AIDS thì họ sẽ có cái nhìn khác đối với những người nhiễm HIV/AIDS. 6.Tiềm năng phát triển vai trò: Từ quá trình phân tích vai trò của nhân viên CTXH trong việc mở một phòng khám riêng thì ta có thể thấy rằng tiềm năng phát triển vai trò của nhân viên CTXH là rất lớn. Do số lượng người nhiễm HIV ngày càng gia tăng, sự thiếu hiểu biết về các thông tin của người dân trong cộng đồng. Và hiện nay tại các bệnh viện vẫn chưa có sự xuất hiện của nhân viên CTXH, những người nhân viên CTXH đầu tiên đang được ươm trồng. Hiện nay có rất nhiều các dịch vụ xã hội cung cấp cho người nhiễm HIV. Tuy nhiên việc người bệnh tiếp cận các nguồn dịch vụ này rất khó khăn, do chưa có hệ thống truyền thông, thông tin đồng bộ, do thủ tục xin thuốc cũng như khám chữa bệnh cho người nhiễm HIV quá rườm rà và đôi khi họ cũng không biết cần phải đến đâu để được hỗ trợ các dịch vụ xã hội đó. Điều này cần phải có sự giúp sức của những nhân viên CTXH. Chính họ là người sẽ cung cấp các thông tin về dịch vụ xã hôi cơ bản cho người nhiễm HIV/AIDS. Đôi khi trong quá trình bệnh nhân làm thủ tục xin các dịch vụ xã hội này quá khó thì có thể nhờ sự giúp đỡ của nhân viên CTXH. Ta cũng biết rằng hiện nay chỉ có những nhóm đồng đẳng là hỗ trợ tâm lý cho người bị nhiễm HIV. Khi tham gia các nhóm đồng đẳng họ cảm thấy mình không lẻ loi và mình có thể đóng góp một phần công sức của mình cho cộng đồng. Tuy nhiên với vai trò là nhân viên CTXH, định hướng cho các hoạt động của các nhóm đồng đẳng này và từng cá nhân trong cộng đồng thì sẽ giúp ích hơn nữa trong quá trình điều trị và giúp cho cá nhân hoà nhập cộng đồng. Ta cũng biết rằng trong quá trình điều trị cho người nhiễm HIV thì cần phải có sự phối hợp của: bác sĩ. Y tá, nhà tham vấn, nhân viên CTXH thì mới tạo nên được kết quả tốt nhất cho bệnh nhân trong quá trình điều trị. Mô hình này đã được áp dụng nhiều ở các nước phương Tây, nơi mà nghành CTXH trong lĩnh vực sức khoẻ của họ đã rất phát triển. Vì vậy trong tuơng lai với sự ra đời của nghành CTXH chúng ta tin rằng với sự đóng góp sưc lực của nhân viên CTXH trong quá trình điều trị cho người nhiễm HIV sẽ được thuận lợi và tiến triển hơn. Để đạt được điều này cần phải có sự cố gắng nhiều hơn nữa của các nhân viên CTXH, để khẳng định vị thế và vai trò của mình trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ để xã hội và cụ thể là trong lĩnh vực Y tế có thể nhận thấy được những vai trò của mình trong quá trình điều trị cho bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS. Ta có thể thấy rằng vai trò và trách nhiệm của người nhân viên CTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cả ở trong bệnh viện và việc mở một phòng khám điều trị riêng. Như phần trên tôi đã trình bày mặc dù đều đóng một vai trò quan trọng trong quá trình điều trị, hỗ trợ tâm lý và cung cấp các dịch vụ xã hội cho người nhiễm nhưng mỗi một môi trường xã hội thì nhân viên CTXH làm một công việc cụ thể khác nhau. Quá trình giúp đỡ người bệnh của nhân viên CTXH không chỉ diễn ra ở trong bệnh viện mà khi người bệnh trở về với gia đình, cộng đồng vẫn cần sự giúp đỡ của nhân viên CTXH. Trong tương lai gần tôi nghĩ rằng vai trò của nhân viên Công tác xã hội sẽ có mặt trong các bệnh viện, cùng với bác sĩ, nhà tâm lý trị liệu giúp đỡ bệnh nhân có được một kế hoạch điều trị tốt nhất. Tôi cũng chưa thể hình dung được ở Việt Nam nhân viên CTXH trong lĩnh vực sức khoẻ sẽ đảm nhận vai trò cụ thể gì? Nhưng chắc chắn rằng nhân viên CTXH có thể cung cấp được những dịch vụ cơ bản nhất của bệnh viện cũng như của xã hội cho bệnh nhân, giúp cho quá trình điều trị của bệnh nhân được thực hiện tốt nhất. Tiến xã hơn nữa, cùng với sự phát triển và đi lên của nghành CTXH tôi tin rằng nhân viên CTXH sẽ khẳng định được vai trò và vị thế của mình trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, có thể đảm nhận vai trò, chức năng năng ngang với bác sí trong quá trình hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân. Chúng ta những nhân viên CTXH trong tương lai cần phải cố gắng hơn nữa để có thể đạt được điều này. III. Kết luận: Hiện nay việc ứng dụng vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ của nước ta vẫn chưa được ứng dụng. Tuy nhiên tôi tin rằng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, nhu cầu của cộng đồng trong việc hỗ trợ tâm lý, cung cấp dịch vụ, và tuyên truyền phổ biến sâu rộng cho người dân thì chúng ta sẽ nhanh chóng có những nhân viên CTXH trong bệnh viện. Chúng ta- những người nhân viên CTXH trong tương lai cần phải trao dồi kiến thức, kinh nghiệm, một tâm hồn yêu thương…để có thể đáp ứng được với nhu cầu của xã hội. Tôi tin rằng với những gì chúng ta đang cố gắng và sẽ làm trong những năm tới thì số lượng người nhiễm HIV sẽ giảm xuống, số lượng người nhiễm HIV có thể tiếp cận được với các dịch vụ xã hội ngày càng được tăng lên, sự kỳ thị trong cộng đồng với người HIV/AIDS sẽ giảm xuống…sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế - chính trị - xã hội phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới. TÀI LIỆU THAM KHẢO: Luận văn về cai nghiện ma tuý của nghành Xã hội học năm học 1998 – 2002. Tập bài giảng môn Công tác xã hội của cô Trần Thị Thanh Hương., trường Đại học Thăng Long. Trang web: www.Laodong.com.vn Trang web: www.Dantri.com.vn Trang web: www.sggp. org.vn Trang web: www.vietnamgateway. Org:100.vn Trang web: www.uhm.vn Trang web: www.ngoisaoblog.com Trang web: www.Hanoi.vnn.vn Trang web: www.cpv. Org.vn Trang web: www.qdnd.vn Trang web: www.yduocngaynay.com Trang web: www. vietnam.net Trang web: www.vicongdong.vn Trang web: www.vnMedia.vn Trang web: www.Tuoitreonline.vn Trang web: www.buonchuyen. Info.vn Trang web: www.Vietbao.vn Trang web: www.Nhandan. Org.vn. Trang web: www.Suckhoedoisong.vn Trang web: www.Daidoanketonline.vnn.vn Trang web: www.ontoom.com.vn **** Một số trang web phục vụ cho việc khám, xét nghiệm, hỏi đáp về bệnh HIV/ AIDS: Chuyên mục vì sức khoẻ cộng đồng: www.khoahoc.vnn.vn/gocyte Tuổi trẻ vì tuổi trẻ: www.honme.vnn.vnChương trình phối hợp của LHQ về HIV tại Việt Nam:www.unaids. Org.vn Cơ quan điều phối phòng chống HIV/AIDS của Mỹ: www.state.gov/s/gac/countries/fc/vietnam Tổ chức Y tế thế giới: www.who.int/hiv/countries/en/index1.htm Tổ chức sức khoẻ gia đình quốc tế: www.fhi.org/en/HIV AIDS/country/Vietnam/index1.htm ( Đoàn thị vân)
|
|
|
|
|
Logged
|
Ta không thể dạy người khác cái gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ ( Galileo Galile 1564-1642 )
|
|
|
|
^^aby^^
|
 |
« Trả lời #4 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2008, 04:58:32 AM » |
|
I. Trường hợp cụ thể:
Việc sử dụng ma tuý tại Việt Nam tiếp tục tăng cao và tình trạng tiêm chích ma tuý đã trở nên phổ biến. Nhà nước Việt Nam chú trọng đến diễn biến này và sẵn sàng phản ánh trên chính sách về phục hồi. Bộ LĐTBXH và BYT đã ký sửa một thông tư sửa đổi hướng dẫn thủ tục cai nghiện gồm 5 bước trong hướng dẫn cai nghiện như sau: 1) Tiếp nhận, phân loại; 2) Điều trị, cắt cơn, giải độc; 3) Giáo dục phục hồi hành vi, nhân cách; 4) Lao động trị liệu hoà nhập cộng đồng và 5) Quản lý lâu dài dựa vào cộng đồng.
Hà Nội đang đi đầu trong việc thực hiện bước cuối của quy trình cai nghiện ma tuý, tạo ra một chương trình Nhà nước duy nhất cho việc cai nghiện ma tuý dựa vào cộng đồng. Căn cứ vào kết quả thí điểm ban đầu từ năm 2000, ngày 18 tháng 7 năm 2001, Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội, đã thông qua Nghị quyết số 18/NĐ – HĐ cho phép nhân rộng “Mô hình quản lý, giáo dục, tư vấn, giúp đỡ người cai nghiện ma tuý tái hoà nhập cộng đồng và phòng, chống tái nghiện - gọi tắt là Câu lạc bộ\ (CLB) B93” (Điều 3 và Điều 4) nhằm đảm bảo rằng Chi cục phòng, chống tệ nạn xã hội Hà Nội (CCPCTNXH) hợp tác với chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội và gia đình để thực hiện hệ thống CLB này qua việc cung cấp các dịch vụ quản lý, giáo dục, tư vấn và hỗ trợ dựa vào cộng đồng cho những đối tượng từ các trung tâm cai nghiện trở về.
Mặc dù áp dụng thí điểm các CLB dựa vào cộng đồng được bắt đầu từ năm 2000 và được phép nhân rộng từ năm 2001, nhưng cho đến nay (9/2007), Thành phố vẫn chưa có văn bản chính thức đưa CLB B93 vào hệ thống cai nghiện cũng như chưa có các văn bản hướng dẫn các bước trong quản lý CLB B93.
Và Sau 5 năm áp dụng thí điểm, mô hình CLB B93 đã đạt được một số thành công nhưng đồng thời cũng bộc lộ những khó khăn và chương trình B93 không đạt được những mục tiêu đề ra. CLB cần phải có sự hỗ trợ của nhân viên CTXH trong quá trình thực hiện ở gia đoạn tiếp theo nhằm duy trì và phát triển CLB B93 ngày càng lớn mạnh và lan rộng ra cả nước. Tuy nhiên vẫn đề cần phải làm ngay đối với nhân viên CTXH đó là:
Với sự can thiệp của nhân viên Công tác xã hội nhằm đánh giá lại quá trình hoạt động của CLB B93 trong thời gian qua. Qua sự phân tích, đánh giá đó chúng ta sẽ tìm ra được những điểm mạnh cũng như điểm yếu trong chương trình hoạt động của CLB B93. Từ đó mà chúng ta có chương trình, ké hoạch hoạt động đối với ban lãnh đạo, quan lý và thành viên của CLB B93 nhằm giúp cho CLB B93 có thể phát huy hết tiềm năng của mình, ngày càng phát triển và trở thành một mô hình có thể lan rộng trên phạm vi cả nước.
II. Nội dung kế hoạch hoạt động của nhân viên Công tác xã hội nhằm giúp đỡ cho CLB B93:
Đối với việc tiếp cận CLB B93, nhân viên Công tác xã hội làm việc theo tiến trình Công tác xã hội nhóm. Tiến trình Công tác xã hội nhóm bao gồm 4 bước đó là: 1)Thành lập nhóm;2) khảo sát nhóm; 3)duy trì nhóm; 4)bước giải quyết vấn đề và đạt mục tiêu xã hội.
1. Những ưu và nhược điểm trong quá trình hoạt động của CLB B93
Trong trường hợp của CLB B93 thì đây là một CLB đã được thành lập và duy trì trong một thời gian khá dài. Cho nên ta có thể thấy rằng mức độ thân mật, hiểu biết về nhau đã tương đối tốt. Với sự can thiệp của nhân viên Công tác xã hội trong CLB B93 là nằm trong bước 4 - bước cuối cùng trong tiến trình Công tác xã hội nhóm nhằm lượng giá lại toàn bộ những gì mà CLB B93 đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại. Chúng ta cần phải đề ra những mục tiêu mới cho việc khắc phục những hạn chế của CLB B93, tạo điều kiện thuận lợi cho việc duy trì, phát triển và triển khai mô hình này lan rộng ra cả nước, nhằm hạn chế số lượng người nghiện tái nghiện nhờ sự giúp đỡ của gia đình và cộng đồng.
Ta thấy rằng đối với CLB B93 do đã duy được và hoạt động trong một thời gian khá dài nên cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định, nó có ý nghĩa quyết định tới việc tồn tại của nhóm. Đó là: CLB B93 đã có sự liên kết giữa gia đình và cộng đồng trong quá trình giúp đỡ người cai nghiện trở về với cộng đồng; có sự lãnh đạo nhiệt tình của các nhà quản lý trong CLB B93; cung cấp đươc những dịch vụ xã hội cơ bản đối với những thành viên trong CLB B93 như dịch vụ sức khoẻ, việc làm, vui chơi, tâm lý – xã hội; đã duy trì được Mô hình Daytop trong những buổi sinh hoạt của các thành viên CLB B93. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu mà CLB B93 đã đạt được thì vẫn còn tồn tại một số vấn đề nằm trong từng vấn đề mà CLB B93 đã đạt được. Vai trò của nhân viên Công tác xã hội là tìm ra được những hạn chế, nêu ra phương hướng giải quyết vấn đề, từ đó nhận xét đánh giá lại cả quá trình khắc phục hạn chế thì CLB B93 có đạt được những mục tiêu đề ra hay không. Từ những kết quả mà CLB B93 đạt được thì chúng ta mới có cơ sở để nhân rộng mô hình cai nghiện này trên cả nước, nhằm đạt được kết quả tốt nhất.
Những hạn chế mà CLB B93 gặp phải ở đây gồm có 4 vấn đề chính đó là:
Sự lãnh đạo: lãnh đạo của CLB hầu hết chưa được đào tạo một cách bài bản hầu hết làm việc theo kinh nghiệm và tự học, đôi khi có nhiều người quản lý còn chưa hiểu hết được tâm lý của người cai nghiện ma tuý. Nội dung họp (Mô hình Daytop): Hầu hết CLB B93 đã áp dụng chương trình hoạt động của mô hình Daytop. Tuy nhiên sự thấu hiểu về tâm sinh lý của các thành viên trong CLB vẫn chưa được coi trọng, hướng nghiệp cho thành viên sau khi ra CLB vẫn chưa được thực hiện tốt, nội dung họp nhóm còn đơn giản và lặp lại tạo nên sự nhàm chán đối với những thành viên của CLB B93. Các hoạt động tái hoà nhập cộng đồng đã được tổ chức và lôi cuốn được nhiều thành viên trong CLB tham gia. Tuy nhiên địa điểm tổ chức vẫn chưa có, và các chương trình hoạt động vẫn còn rời rạc. Dịch vụ (Bao gồm dịch vụ sức khoẻ, việc làm, tâm lý – xã hội): Dịch vụ sức khoẻ đối với người nhiễm HIV/AIDS của CLB B93 rất hạn chế cụ thể như về xét nghiệm, giáo dục, điều trị thuốc hoặc tư vấn. Kiến thức về HIV/AIDS cũng rất khác nhau. Dịch vụ việc làm của CLB còn rất hạn chế do thiếu vốn đầu tư. Dịch vụ tâm lý – xã hội đã tạo được mối quan hệ thân thiện của những thành viên trong CLB đối với cán bộ quản lý và các thành viên khác trong CLb. Tuy nhiên việcthành viên của CLB là phái nữ thì việc trao đổi tâm tư nguyện vọng còn gặp nhiều khó khăn do chủ yếu những người quản lý trong CLB là giới nam, và các thành viên nữ trong CLB cũng ít. Mối liên hệ giữa gia đình và các thành viên trong CLB cũng gặp nhiều khó khăn do những người trong gia đình của những thành viên trong CLB cũng chưa được trang bị đầy đủ về tâm lý của những người cai nghiện, người nhiễm HIV/AIDS. Nguồn vốn tài trợ: Hiện nay nguồn vốn của CLB còn rất thấp chưa đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu của những người cán bộ quản lý( lương thấp), các hoạt động vui chơi, các phòng khám sức khoẻ cho những thành viên trong CLB. Những đánh giá trên là toàn bộ những ưu và nhược điểm của những hoạt động của CLB B93 trong thời gian qua. Vai trò của nhân viên Công tác xã hội là cần phải phối hợp với cán bộ quản lý của CLB để từ những ưu điểm của chương trình hoạt động này chúng ta cần phải duy trì, phát triển và nhân rộng mô hình này trong cộng đồng. Cũng từ những hạn chế của chương trình hoạt động của CLB B93 chúng ta sẽ đề xuất ra một kế hoạch hoạt động khả thi nhằm thu được những kết quả cao nhất trong quá trình hoà nhập cộng đồng của những người cai nghiện.Tuy nhiên chúng ta cần phải thấy rằng việc lập kế hoạch hành động cho CLB B93 không chỉ là nhiệm vụ của nhân viên CTXH còn cần phải có sự tham gia, đánh giá của ban lãnh đạo, cán bộ xã hội, các thành viên trong CLB B93 bởi vì bản thân họ muốn thay đổi thì chúng ta những nhân viên CTXh mới có thể giúp sức cùng họ được. Chúng ta chỉ đóng vai trò là người hỗ trợ họ còn việc làm cụ thể của họ như thế nào là do chính bản thân những thành viên trong CLB B93 tiến hành, chúng ta đóng vai trò quan trọng trong quá trình tham vấn với bệnh nhân và gia đình bệnh nhân, vì đây cũng là một lĩnh vực của nhân viên CTXH.
Trong tuần tiếp xúc đầu tiên, nhân viên Công tác xã hội cần phải làm quen với các thành viên của CLB B93. Điều quan trọng nhất ở đây là chúng ta cần phải tìm hiểu tâm lý của những thành viên trong CLB. Bởi vì không chỉ những người trong cộng đồng kỳ thị với họ mà chính họ cũng mặc cảm với chính bản thân mình, nên ít có sự giao tiếp thân mật với người không bị nghiện như họ, đặc biệt là những người lạ. Do vậy người nhân viên Công tác xã hội cần phải tạo được niềm tin nơi họ, cần phải cho họ biết mình đến đây là cùng với họ giải quyết vấn đề mà CLB B93 đang gặp khó khăn, nhằm đưa ra được những kề hoạch khả thi nhất trong quá trình tái hoà nhập cộng đồng của họ đạt được kết quả tốt nhất, cần phải có thái độ thân thiện, hoà nhã, niềm nỡ, biết lắng nghe ý kiến của họ, phải có sự đồng cảm và thấu cảm của người nhân viên Công tác xã hội trong quá trình nói chuyện và trao đổi tâm tư nguyện vọng cũng như những tâm sự thầm kín của họ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ta không thể dạy người khác cái gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ ( Galileo Galile 1564-1642 )
|
|
|
|
^^aby^^
|
 |
« Trả lời #5 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2008, 04:59:42 AM » |
|
2.Lãnh đạo:
Trong quá trình hoạt động của CLB B93 vấn đề quan trọng nhất là sự lãnh đạo mà đặc biệt là đào tạo cán bộ. Ta biết rằng từ khi CLb B93 thành lập chưa có một lớp tập huấn chính thức nào về quản lý các CLB B93. CCPCTNXH có 8 cán bộ nhiệt được phân công giám sát tất cả 111 CLB B93, tức là một cán bộ sẽ giám sát khoảng 14 CLB. Trong 111 CLB này thì sẽ có những CLB nhỏ bao gồm ít hơn 7 thành viên tích cực, và CLB lớn bao gồm từ 7 thành viên tích cực trở lên. Sau khi khảo sát sự hoạt động, kinh nghiệm và quá trình tham gia của lãnh đạo CLB B93 thì nhân viên Công tác xã hội đã thu thập được một số thông tin nhất định. Đó là những người cán bộ của CLB B93 vẫn chưa có đầy đủ kiến thức về người sử dụng ma tuý, vai trò cũng như trách nhiệm, những yếu tố cần thiết của một người quản lý giỏi…Một trong số 15 Cán bộ xã hội (CLb nhỏ) cho rằng anh cảm thấy được chuẩn bị đầy đủ để làm việc tại B93 trong khi anh ta chưa bao giờ làm việc với những người sử dụng ma tuý trước đây và chỉ tham dự một khoá học nửa ngày do CCPCTNXH thực hiện về “cách tổ chức một buổi sinh hoạt”. 14 Cán bộ xã hội khác phần lớn họ cảm thấy không được chuẩn bị gì cho vai trò là một người quản lý CLB. Một Cán bộ xã hôi giải thích: “Chúng tôi chỉ được tập huấn một hoặc hai ngày”. “Tôi đã tự nghiên cứu sách và học tập của CLB khác. Chúng tôi không được tập huấn đầy đủ. Hầu hết những kiến thức mà chúng tôi có được là do tôi tự học”. Ta thấy rằng với vai trò là một người nhân viên Công tác xã hội đã học qua các chương trình quản trị nghành Công tác xã hội thì chúng ta có thể tổ chức một buổi sinh hoạt những cán bộ xã hội của CLB B93, nhằm giúp cho những cán bộ này cùng nhau thảo luận về cần phải có những kiến thức và yếu tố nào để giúp cho họ trở thành một người quản lý tốt.
Từ những nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng và những khó khăn mà CLB chưa biết đến hoặc chưa có điều kiện để đáp ứng nhu cầu thì chúng ta có thể lập một kế hoạch nhằm giúp cho họ có thể khắc phục những mặt yếu kém trong quản lý. Ta có thể trình một kế hoạch lên Ban lãnh đạo của CLB B93 lấy ý kiến và có những kế hoạch đề xuất đối với các cơ quan Nhà nước cũng như Phi chính phủ trong việc phòng chống HIV/AIDS hay những cơ quan đơn vị có nhiều kinh nghiệm về quản lý để kêu gọi sự giúp đỡ, đóng góp của họ nhằm giúp cho những Cán bộ quản lý của CLB B93 được cung cấp đầy đủ kiến thức về quản lý. Nhằm giúp cho quá trình quản lý, cũng như sáng tạo ra các hoạt động lôi cuốn được nhiều thành viên trong CLB B93 tham gia.
Tuy nhiên các chương trình đào tạo này nếu nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng thì nhân viên Công tác xã hội cần phải đề xuất ý kiến với họ rằng trong quá trình đào tạo cho những Cán bộ quản lý trong CLB B93 cần phải nói rõ cho những Cán bộ quản lý của CLB B93 biết được tầm quan trọng của việc thấu cảm tâm lý của những thành viên trong CLB, có như vậy thì họ sẽ biết mình cần phải làm gì đề giúp cho quá trình quản lý những thành viên này được tốt nhất.
2. Nội dung họp:
Đó chính là Mô hình Daytop. Đây được coi là mô hình cơ bản cho các chương trình phục hồi chức năng ở hơn 60 nước. Trong quá trình hoạt động và sinh hoạt theo Mô hình Daytop thì CLB B93 đã hoạt động khá nghiêm túc. Tuy nhiên như phần trên tôi đã trình bày có hai phần chính mà trong chương trình sinh hoạt của CLB B93 chưa được thực hiên tốt đó chính là Tâm lý của những thành viên trong CLB vẫn chưa được chú trọng và hoạt động hướng nghiệp trong tương lai của những người sau cai nghiện. Đây là một điểm mấu chốt trong quá trình điều trị cho những thành viên trong CLB bởi vì chúng ta có hiểu được tâm lý của họ thì mới có thể biết mình cần phải tác động gì vào tình cảm để họ cố gắng thực hiện tốt nội dung chương trình và không nghiện trở lại, cũng như có được công việc ổn định thì người nghiện mới không dễ bị lôi kéo vào con đường tái nghiện. Những hạn chế này là do đội ngũ cán bộ lãnh đạo của CLB vẫn chưa được đào tạo sâu và bài bản.Cán bộ Daytop gồm có các chuyên gia trong lĩnh vực tâm lí, công tác xã hội,y tế và giáo dục cũng như những người đã trải qua các lớp huấn luyện cấp tốc và được cấp chứng chỉ về tham vấn. Do thiếu những cán bộ chuyên trách từng mảng một trong quá trình làm việc của CLB mà dẫn đến những hạn chế này của CLB.
Do CLB chưa đủ kinh phí để có thể làm việc cùng với những nhà trị liệu tâm lý thì với vai trò là một nhân viên CTXH ( Công tác xã hội) chúng ta cần phải có quá trình tiếp xúc, gần gũi, quan tâm, chia sẽ với những thành viên trong CLB, cần phải có quá trình tham vấn giữa nhân viên CTXH. Bởi vì quá trình tham vấn là một lĩnh vực quan trọng trong quá trình tiếp xúc với thân chủ của nhân viên CTXH, chúng ta đã tiếp cận và thực hành vấn đề này trong quá trình học tập. Do vậy người nhân viên CTXH có thể đảm nhận vai trò là một nhà tham vấn trong quá trình tìm hiểu tâm lý của những thành viên trong CLB. Từ đó những thành viên trong CLB mới có thể nói lên những gì họ đang nghĩ, hoàn cảnh sống, những tâm tư nguyện vọng, cũng như đằng sau những con người này là một đời sống tinh thần phong phú và hoàn cảnh rất khó khăn, phức tạp. Chúng ta những người nhân viên CTXh cần phải làm điều này bằng cách mở một phòng tham vấn riêng tại CLB hoặc tại UBND phường, dù là một phòng nhỏ những riêng biệt thì chúng ta tin rằng những thành viên trong CLB có thể bộc lộ những điều tâm sự cho nhân viên CTXH biết được. Không những thế chúng ta cần phải liên kết với các trung tâm tham vấn, tư vấn của Nhà nước ta, cũng như xin sự tài trợ của các Tổ chức phi chính phủ đang có các chương trình phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam một khoá học về tham vấn cũng như những kỹ năng cần phải có đối với một cán bộ quản lý của Mô hình Daytop. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta chịu khó tìm kiếm thông tin, sự hiểu biết, biết nắm lấy cô hội thì việc xin một khoá học cho những cán bộ quản lý này không phải là khó khăn, hoặc chúng ta có thể viết hẳn một kế hoạch xin được nâng cao trình độ cho những cán bộ quản lý của CLB tới các nhà tài trợ của CLB đó là tổ chức NGO. Hơn nữa chúng ta sẽ cùng với những nhà lãnh đạo của CLB B93 cần phải cấu trúc lại chương trình hoạt động của Mô hình Daytop phù hợp hơn với môi trường dựa vào cộng đồng, Sự cấu trúc lại này phải phù hợp với nhu cầu của thành viên trong CLB B93, vừa có thể phát huy tính sáng tạo ở họ vừa đảm bảo được sự nhiệt tình tham gia và hoan thành kế hoạch hoạt động trong chương trình. Chương trình hoạt động của CLB B93 là nằm ở giai đoạn sau cùng (giai đoạn phục hồi – sau cai) trong quá trình cai nghiện. Tuy nhiên chúng ta thấy rằng chưa có sự kết hợp giữa những hoạt động trước đó của chương trình Daytop của Nhà nước (Định hướng, chăm sóc ban đầu, trước khi vào chương trình, và vào chương trình) với những hoạt động của CLB B93, cho nên chưa tạo nên được sự đồng bộ trong quá trình điều trị.
Cách tổ chức sinh hoạt hàng tuần hàng tháng của CLB theo đề xuất của tôi thì nên lấy ý kiến của từng thành viên xem đối với bản thân họ thì họ sẽ làm những hoạt động gì trong quá trinh sinh hoạt nhóm dù vẫn thực hiện theo nội dung Mô hình Daytop nhưng có sự sáng tạo như thế nào trong quá trình sinh hoạt để họ không cảm thấy nhàm chán mà vẫn thu được kết quả tốt. Không những thế chúng ta cần phải hướng dẫn cho họ cách sinh hoạt lấy ý kiến theo từng nhóm nhỏ trong toàn bộ các thành viên tham gia CLB, bởi vì sinh hoạt theo nhóm ở Việt Nam còn rất mới, chưa thu được ý kiến của cả tập thể đối với một vấn đề nào đó. Do được làm việc theo nhóm từ khi đi học thì chúng ta có thể áp dụng nó trong việc sinh hoạt nhóm của CLB. Quá trình sinh hoạt nhóm cần phải có thảo luận , sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm và nhất trí của những người trong cùng một nhóm có như vậy mới thu được những kết quả tốt nhất từ sinh hoạt nhóm. Cần phải đan xem trong quá trình thực hiện Mô hình Daytop các trò chơi tập thể, nếu như chúng ta cụ thể hoá được các nội dung trong chương trình học vào các trò chơi thì hiệu quả học tập sẽ tốt hơn. Các trò chơi rèn luyện kỹ năng sống cũng nên được áp dụng trong quá trình thực hiện theo Mô hình Daytop. Trong quá trình sinh hoạt cần phải khơi dậy được sự say mê, nhiệt tình tham gia đóng góp ý kiến của các thành viên trong CLB, bởi vì tất cả những gì họ nói và làm đều phục vụ cho mục đích của chính bản thân họ. Trong quá trình sinh hoạt theo Mô hình Daytop cần lồng ghép những kiến thức về sức khoẻ, về người nhiễm HIV/AIDS cho họ được hiểu sâu sắc, cần phải nêu gương những người nghiện ma tuý trở thành những người sống tốt ra sao? những tấm gương tiến bộ.
3. Các dịch vụ xã hội xã hội căn bản:
* Dịch vụ sức khoẻ: Do chưa có điều kiện để có thể khám, xét nghiệm thường xuyên cho những thành viên trong CLB thì chúng ta cần phải luôn luôn cập nhật thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau như: văn bản pháp luật, các phương tiện truyền thông như: đài, tivi, Internet…để có thể thường xuyên biết được những dịch vụ hỗ trợ của nhà nước đối với những người nghiện ma tuý và nhiễm HIV/AIDS. Hiện nay theo thông tin từ Bộ Y tế thì hàng năm đều có những ngày khám xét nghiệm ma tuý miễn phí cho nhân dân đặc biệt là những người đang nghiện ma tuý, hơn nữa một số cơ sở về phòng chống ma tuý của các tổ chức phi chính phủ đều có những phòng khám, xét nghiệm HIV/AIDS miễn phí cho người dân. Chúng ta cần phải tận dụng những cơ hội này, do hệ thống an sinh xã hội của nước ta chưa được phát triển và nguồn tài trợ của CLB vẫn chưa nhiều do vậy chúng ta cần phải tận dụng những dịch vụ xã hội miễn phí này của Nhà nước. Hiện nay đối với những bà mẹ có HIV/AIDS hoặc có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS mang thai thì được khám, xét nghiệm miễn phí tại các cơ sở y tế của Nhà nước. Nếu bị nhiễm HIV/AIDS có thể được điều trị nhằm hạn chế sự lây nhiễm HIV/AIDS từ mẹ sang con. Cần phải tuyên truyền cho những thành viên trong trung tâm biết cách chăm sóc mình nhằm hạn chế bệnh tật và lây nhiễm cho người khác. Bởi vì những thành viên trong CLB còn rất mơ hồ về kiến thức cũng như sức khoẻ của mình. Những công việc này cần phải có sự phối hợp giữa nhân viên CTXH và những cán bộ quản lý của trung tâm bởi vì nhân viên CTXh không thể có mặt trực tiếp và liên tục ở CLB để theo dõi giám sát được các hoạt động của CLB. Cho nên cần phải có sự hỗ trợ cho những cán bộ quản lý của trung tâm về nguồn kiến thức này.
* Dịch vụ việc làm:
Nhân viên CTXH cần phải phối hợp với những người lãnh đạo trong CLB vạch ra những kế hoạch về việc làm cho phù hợp với những người sau cai nghiện trở về với cuộc sống hàng ngày. Chúng ta thông qua những buổi sinh hoạt cũng có thể đề cập đến vấn đề này nhằm thu được những ý kiến của thành viên trong CLB về những công việc phù hợp với khả năng và trình độ của họ. Chúng ta biết rằng do hạn chế về nguồn vốn cho nên hầu hết những công việc được đề xuất sẽ là những công việc đòi hỏi ít vốn, và mọi thành viên trong CLB đều có thể làm được, cũng như sau khi ra cuộc sống hàng ngày họ vẫn có thể tự nuôi sống bản thân mình bằng nghề mà mình đã được học từ CLB. Hơn nữa chúng ta cần phải cập nhật thông tin về Luật lao động cho những người nghiện,người nhiễm HIV/ AIDS của Nhà nước ta. Theo tôi được biết, những người bị nhiễm HIV/AIDS sau khi ra cộng đồng vẫn được làm những công việc mà trước kia họ vẫn làm( trừ những công việc có khả năng lây nhiễm Hiv/AIDS cho người khác cao như lấy máu…) Nếu cơ quan nào phá huỷ hợp đồng lao động đối với người nghiện, người nhiễm HIV/AIDS thì nhân viên CTXH có thể giúp họ làm giây tờ đưa lên các cơ quan chức năng xem xét, vì điều này là vi phạm hợp đồng lao động và quyền lợi của người lao động
* Dịch vụ tâm lý – xã hội:
Như trên đã đề cập cần phải có sự hỗ trợ về kiến thức tâm lý cho những cán bộ quản lý của trung tâm nhằm đạt được kết quả tốt nhất trong quá trình hoạt động, tham gia sinh hoạt…của những thành viên trong CLB. Và nhân viên CTXH cũng có thể đảm nhận vai trò làm nhà tham vấn trong CLB. Tuy nhiên chúng ta những nhân viên CTXH cũng như những cán bộ quản lý cần phải để tâm đến việc tuyên truyền kiến thức về tâm lý của những thành viên trong CLB cho gia đình họ. Bởi vì đối với bất cứ ai cũng muốn những ngưòi mà mình yêu thương hiểu, thông cảm và cùng với mình vượt qua những khó khăn do căn bệnh này mang đến. Chính tình yêu thương, sự thấu hiểu của những thành viên trong gia đình về tâm trạng của họ sẽ là một động lực giúp cho họ có thể phấn đấu vươn lên trở thành những thành viên tốt trong gia đình- cộng đồng- xã hội. Tổ chức những hoạt động này cho gia đình bằng việc mời gia đình tham gia một buổi thảo luận tập trung giữa cán bộ quản lý, lãnh đạo của CLB và nhân viên CTXH cùng người nhà của những gia đình có thành viên tham gia CLB về những tâm lý của người nghiện cũng như người nhiễm HIV/AIDS. Đối với những gia đình có điều kiện tiếp cận với những hoạt động truyền thông thì cần khuyến khích họ tìm các thông tin này và chia sẽ với những gia đình khác. Trong quá trình tham gia sinh hoạt các gia đình có thể nêu lên khó khăn mà từng gia đình gặp phải trong quá trình chăm sóc, hỗ trợ điều trị những thành viên trong CLB. Gia đình có thể hỏi ý kiến tham khảo từ chính kinh nghiệm trong các gia đình, hay từ nhân viên CTXH. Cần phải triển khai với những kế hoạch khả thi thông qua tham khảo ý kiến trước đó của lãnh đạo CLB, cán bộ quản lý và một số gia đình (chọn theo mẫu nhất định).
4. Tài trợ:
Hiện nay nguồn vốn tài trợ của CLB B93 còn hạn chế. Trong khi đó nguồn kinh phí này lại bị dàn mỏng ở từng CLB B93 . Chính do việc duy trì quá nhiều CLB nhỏ và lớn khác nhau trong CLB B93. Do vậy chúng ta những người nhân viên CTXH cùng với những người lãnh đạo, cán bộ quản lý nên có một kế hoạch đề xuất cho chương trình xin nguồn vốn hỗ trợ từ các trung tâm Nhà nước cũng như các cơ quan Phi chính phủ khác nhằm đáp ứng như cầu hoạt động của CLB. Do duy trì quá nhiều CLB cho nên hiệu quả hoạt động cũng như nguồn vốn tài trợ bị dàn mỏng cho nên chúng ta cần phải giảm số lượng CLB ở Hà Nội theo hai hướng: Một là Xoá bỏ các CLB không có hiệu quả, chểnh mảng,. Thừ hai, sát nhập các CLb lại với nhau. Cùng với việc sát nhập là việc nâng cao năng lực quany lý cho cán bộ quản lý của CLB. Công việc này không chỉ là nhiệm vụ của nhân viên CTXH mà người chủ yếu đảm nhận công việc này chính là người lãnh đạo và cán bộ quản lý của CLB. Tôi thiết nghĩ rằng có đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cho họ thì họ mới đủ sự nhiệt huyết để cống hiến cho công việc này cũng như hoạt động của CLB được hiệu quả.
III. Kết luận:
Trên đây là toàn bộ kế hoạch hoạt động của tôi nhằm giúp cho CLB B93 khắc phục được những hạn chế trong quá trình hoạt động. Kế hoạch này cần phải có sự góp sức thực hiện của những thành viên trong CLB B93, những nhà lãnh đạo, cán bộ quản lý của CLB trong quá trình thực hiện. Nhân viên CTXh chỉ đóng vai trò trợ giúp hỗ trợ, cùng với những thành viên trong CLB B93 thực hiện kế hoạch này nhằm giúp cho quá trình hoà nhập cộng đồng của họ được tốt nhất. Nhân viên CTXH không làm hộ, làm thay thân chủ của mình, mà cùng với thân chủ của mình làm việc, đưa ra những kế hoạch và lựa chọn một kế hoạch khả thi phù hợp nhất đối với nhu cầu cũng như trình độ, sự hiểu biết, hoàn cảnh của CLB đê đạt được kết quả tốt nhất. Tôi mong rằng, với những gì mà CLB B93 đang làm thì sẽ thu được những kết quả đáng hoan nghênh hơn. Và việc triển khai mô hình này sẽ nhanh chóng được áp dụng trong phạm vi của cả nước
( Đoàn thị vân)
|
|
|
|
|
Logged
|
Ta không thể dạy người khác cái gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ ( Galileo Galile 1564-1642 )
|
|
|
|
^^aby^^
|
 |
« Trả lời #6 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2008, 05:01:09 AM » |
|
MÔ TẢ THÂN CHỦ:
Trẻ em nghiện ma túy: *Khái niệm:
Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên (morphin...); bán tổng hợp (heroin được bán tổng hợp từ morphin) hay tổng hợp (amphetamine ) có tác dụng lên thần kinh trung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn hay cảm thấy dễ chịu... mà khi dùng nhiều lần thì sẽ phải sử dụng lại nó nếu không sẽ rất khó chịu.
Trẻ em nghiện ma túy : Sử dụng với liệu lượng tăng dần và tăng tần số sử dụng,sẽ gây nghiện làm cho cơ thể mất khả năng khống chế
Thực trạng trẻ em nghiện ma túy Theo điều tra của Liên Hợp Quốc, cuối năm 2000, điều tra trên 20.000 học sinh đang học trên 100 trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Trung học dạy nghề ở một số thành phố, thị xã đại diện cho các vùng đô thị trong cả nước có khoảng 2/3 số học sinh được hỏi biết ít nhất một loại ma tuý nào đó, đặc biệt là thuồc phiện và heroin, gần 10% học sinh biết đến amphetamine - thứ hồng phiến gây nghiện và đang trở lên phổ biến ở các nước trong khu vực. Thực tế có khoảng 44% học sinnh được khảo sát cho biết các em đã từng sử dụng chất gây nghiện nói chung, trong đó 4,2% đã sử dung ma tuý, phổ biến là các loại: gardenal, secondal, cần sa… đặc biệt có 0,2% sử dung thuốc phiện và heroin. Với các loại chất an thần ,các chất gây ảo giác hay các loại hồng phiến các thường sử dụng bằng cách uống . Với thuốc phiện và heroin các em chủ yếu hút hít, 25% là tiêm chích , đáng lo ngại là trên 50% các em sử dụng bơm kim tiêm.
3) Triệu chứng của người nghiện ma túy:
Thường xuyên vắng mặt, ít tiếp xúc với mọi người hơn để lấy thời gian sử dụng ma túy: đi vệ sinh lâu hơn, đi ngủ sớm hơn... Cần một lượng tiền lớn một cách đột ngột Răng vỡ vụn, mắt lờ đờ... Khi say thuốc người nghiện rơi vào trạng thái ảo giác không kiểm soát được ý thức, trẻ bỏ bê học hành, kết quả sa sút Khi không có thuốc thì ngứa ngáy chân tay, đến cơn thì vật vã ... Người nghiện thường ít tiếp xúc với nước, da xanh xao, người ốm 3) Nguyên nhân :
a) Chủ quan:
Do tâm lý chưa ổn định, dễ bị dụ dỗ lôi kéo tham gia vào việc sử dụng ma túy. Các em muốn thể hiện mình,tỏ ra “bản lĩnh” ,anh hùng và tò mò muốn thử một lần cho biết xem có mùi vị như thế nào dẫn đến bị nghiện ... Chính sự vô tình, tò mò và thiếu hiểu biết đã gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc. Do bị trầm cảm, bị lạm dụng thể xác, tình cảm, tình dục,các em tìm cách giải tỏa cảm xúc bằng cách chìm vào trạng thái ảo của chất gây nghiện. . b.Nguyên nhân do gia đình:
Cha mẹ không hiểu tâm lý trẻ, quản lý quá khắt khe hoặc buông thả con cái, không quan tâm đến trẻ là nguyên nhân dẫn đến việc nghiện ma túy của trẻ. Giáo dục gia đình chính là nguyên nhân quan trọng hình thành hành vi và nhận thức của trẻ.Chính sự nhầm lẫn trong giáo dục gia đình, giữa con người gia đình, con người tập thể dã làm cho đối tượng bị ức chế, chịu sức ép về đạo đức xã hội quá sớm, thậm chí là quá lớn để không tự giải quyết được dẫn đến việc phó mặc, chống đối của trẻ. c) Nguyên nhân môi trường xã hội:
Luồng văn hóa mới du nhập kéo theo hàng loạt những tệ nạn xã hội, những cám dỗ, cạm bẫy và cả những áp lực tâm lý đối với trẻ. Các khu dân cư không ít dân nghiện, không ít những cơ sở buôn bán ma túy..Nhà trường chưa có sự phối hợp với gia đình và các tổ chức xã hội trong quản lý và trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ về tác hại của việc sử dụng ma túy. Nhân viên công tác trong quá trình trợ giúp thân chủ ần dựa vào những nguyên nhân trên để tìm ra những biện pháp phòng ngừa cho hợp lý.
Hậu quả của việc trẻ sử dụng ma túy: *Về mặt thể lực: khi các em quen dung mà ngưng việc sử dụng sẽ bị các rối loạn mà y dược coi là bị “hội chứng cai thuốc” – gây co giật và dữ dội hơn như bị tiêu chảy , ói mửa, đau nhức cơ xương ,tim đập hỗn loạn... làm người nghiện cảm thấy đau đớn khổ sở và không chịu đựơc.. Về cơ thể ,khi trẻ không ăn uống sẽ dẫn tới tình trạng suy dinh dưỡng ,Cơ thể bị thiếu chất sẽ gầy gò ,không có sức đề kháng, đó là điều kiện thuận lợi cho một số bệnh xâm nhập vào cơ thể.Và khi đó cơ thể trẻ có nguy cơ cùng một lúc bị nhiều bệnh tấn công.
*Về mặt tâm lí ,thì người nghiện luôn có ham muốn được dùng chất gây nghiện đó và không thể kiềm chế được.. Trẻ bỏ bê học hành, ăn uống….Trẻ không tập trung được trong học tập vì bộ não bị các chất gây nghiện điều khiển tâm trí không rõ ràng.
Tâm lý lo ngại sự trừng phạt của gia đình, sự xa lánh của bạn bè, và xã hội. Trẻ dễ nản lòng khi muốn thay đổi hoàn cảnh hiện tại.
* Một hậu quả nghiêm trọng của sử dụng ma túy đó là trẻ sẽ dễ lâm vào các tệ nạn xã hội khác : trộm cắp, cướp giật, giết người…để thỏa mãn cơn nghiện của mình.
TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
Nhân viên xã hội có vai trò tham vấn, quản lý, giáo dục và biện hộ cho thân chủ.
Nhân viên công tác là người giúp trẻ nhận thức được tác hại của việc sử dụng ma túy, đồng thời can thiệp giúp trẻ tham gia cai nghiện bằng cách cung cấp các thông tin về các tổ chức, cơ sở và biện pháp chăm sóc sức khỏe khi cai nghiện. Công tác giáo dục có thể thực hiện qua các buổi tư vấn tâm lý cho thân chủ. Thuyết phục động viên trẻ tham gia vào các nhóm đồng đẳng, các trung tâm cai nghiện. Thông qua nhóm đồng đẳng các em có thể hiểu được hoàn cảnh của nhau để từ đó có thể giúp nhau trong việc cai nghiện. Liên hệ với các trung tâm cai nghiện, các tổ chức giúp đỡ trẻ có môi trường sống an toàn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cai nghiện. Tham vấn cho gia đình cũng như nhà trường những biện pháp hỗ trợ trẻ cai nghiện, thay đổi hợp lý việc chăm sóc, quản lý trẻ.
Đồng thời hỗ trợ can thiệp khủng hoảng cho trẻ trong giai đoạn nghiện cũng như cai nghiện, hoặc khi trẻ phải đối mặt với những vấn đề nảy sinh do nghiện ma túy( bệnh tật, vi phạm pháp luật..). Điều quan trọng là giúp trẻ có suy nghĩ tích cực, thay đổi hoàn cảnh hiện tại hướng tới cuộc sống mới.
Tuy nhiên cần phải đặc biệt chú ý đến những nhu cầu cũng như đặc điểm tâm lý của trẻ. Những rào cản , diễn biến tâm lý phức tạp, hoàn cảnh, môi trường của trẻ .Cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và bạn bè của thân chủ để có sự động viên hỗ trợ cảm xúc cho thân chủ. Nhân viên là cầu nối là người biện hộ giúp thân chủ nói lên nhu cầu cũng như mong muốn của mình.
Một vai trò quan trọng khác của nhân viên xã hội là giúp thân chủ tái hòa nhập cộng đồng, giúp họ trở về với cuộc sống, được gia đình và xã hội công nhận. Để thực hiện vai trò này cần có sự phối hợp đồng bộ của nhiều tổ chức, lĩnh vực chăm sóc trẻ. Là cầu nối của thân chủ với các dịch vụ xã hội, các chuyên gia chăm sóc.
Có thể thấy tiềm năng phát triển vai trò của nhân viên công tác xã hội với đối tượng này là rất lớn. Nó xuất phát từ thực trạng gia tăng số lượng, sự phức tạp của tình trạng nghiện ma túy ở trẻ mà bất cứ một lĩnh vực xã hội nào cũng phải có vai trò ngăn chặn và hạn chế nó. Cùng với sự phát triển đi lên thì nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho con người càng lớn. Hơn nữa đối tượng là trẻ em lại càng được quan tâm mạnh mẽ vì đây chính là những thế hệ tương lai của đất nước. Sự chia sẻ, trợ giúp nhau cũng chính là sự phát triển vì con người.
Chính vì vậy vai trò của nhân viên công tác xã hội càng được nâng cao.
KẾT LUẬN:
Để thực hiện được vai trò quan trọng của mình, đòi hỏi nhân viên xã hội phải không ngừng trau dồi kiến thức kĩ năng và phải thực sự là người tâm huyết với nghề. Sự đóng góp của nhân viên công tác xã hội là không nhó trong công tác chăm sóc con người.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Hai, 2010, 00:51:36 AM gửi bởi -_-ABY-_- »
|
Logged
|
Ta không thể dạy người khác cái gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ ( Galileo Galile 1564-1642 )
|
|
|
|
^^aby^^
|
 |
« Trả lời #7 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2008, 05:37:18 AM » |
|
I.Đặt vấn đề Sức khoẻ đối với mỗi cá nhân là vô cùng đáng quý, nó là tài sản lớn nhất mà cuộc sống ban tặng cho mỗi con người, do dó mỗi người cần ý thức được tầm quan trọng của viẹc chăm sóc sức khoẻ cho chính mình và những người thân. Mỗi cá nhân khoẻ mạnh sẽ tạo nên một xã hội khoẻ mạnh lao động hết mình vì sự phát triển chung của toàn xã hội. Nhưng trong xã hội ngày nay với sự phát triển chóng mặt của quá trình đô thị hoá, đã kéo theo hang loạt các vấn đề về môi trường, môi trường ô nhiễm nặng kéo theo hàng loạt các vấn đề về sức khoẻ của con người,bệnh tật xuất hiện ngày một nhiều,nhất là các căn bệnh chưa tìm ra thuốc điều trị như(bệnh ung thư, HIV…) cùng các căn bệnh hiểm nghèo đe doạ đến tính mạng của con người như bệnh tim mạch, phổi, gan, thận đặc biệt là bệnh tim. Theo tổ chức y tế thế giới WHO công bố báo cáo “ gánh nặng toàn cầu” cho biết bệnh tim là nguyên nhân gây tử vong hàng đầ ở các nước phát triển(nguồn tin từ thông tấn xã Việt Nam), năm căn bệnh gây tử vong cao nhất toàn cầu, viêm phổi, bệnh tim, tiêu chảy, HIV/ AIDS và đột quỵ. Ở Việt Nam bệnh tim là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu từ năm 2000, số người mắc căn bệnh này ngày càng bị trẻ hoá, trong quá trình mang bệnh và điều trị họ gặp rất nhiều vấn đề khó khăn về trở ngại tâm lí, tìm kiếm những nguồn hỗ trợ từ xã hội đặ biệt là đối với bệnh nhân nghèo để giúp họ phẫu thuật thoát khỏi căn bệnh này những vấn đề của họ cần đến sự hỗ tợ của NVCTXH. CTXH trong lĩnh vực CSSK nói chung là một lĩnh vực hoạt động lớn của những NVCTXH với sứ mệnh của mình NVCTXH cần vượt ra khỏi khuôn viên của bệnh viện và các cơ sở y tế để dến với công đồng tìm đến những người bệnh. Nên tiềm năng thực hành và phát triển vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực CSSK nói chung và CTXH với người bị bệnh tim ở nứoc ta có nhiều tiềm năng để phát triển. II NỘI DUNG 1. Khái niệm công tác xã hội.
CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ , qua đó ctxh theo duổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. CTXH là hoạt động thực tiễn bởi họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng, với nhóm người cụ thể và mang tính tổ hợp cao , bởi người làm CTXH phải làm việc với nhiều vấn đề khác nhau như tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình, vấn đề sức khoẻ…( cô nguyễn thị oanh – ĐH MỞ BÁN CÔNG TPHCM)
1.1 Đặc điểm của NVCTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ Trên thực tế thực hành CTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ là lĩnh vực lớn nhất của NVCTXH. Theo như Bracht (1798) đã nêu “tính độc đáo của CTXH đến từ trọng tâm hỗ trợ nhu câu về sức khoẻ thể chất,tâm lý xã hội và môi trường của thân chủ”. NVCTXH trong lĩnh vực CSSK là giúp đỡ bệnh nhân thích nghi với bệnh tật và những thay đổi trong thời gian điều trị hay nhập viện, đồng thời tham vấn, tư vấn về mặt tâm lí cho bệnh nhân và người nhà của họ những khó khăn trở ngại khủng hoảng về mặt tâm lí do bệnh tật gây ra,và giúp bệnh nhân tìm kiếm các nguồn lực tài nguyên trong xã hội hỗ trợ việc điều trị căn bệnh của họ. NVCTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cần phải biết đánh giá cao sự cần thiết phải hiểu đựoc các quy thức tổ chức của cơ sở y tế, bệnh viện, phòng khám để đáp ứng được nhu cầu của bệnh nhân. NVCTXH cần phải biết phối hợp với các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ( bác sĩ, y tá, nhà vật lí trị liệu, nhà tâm lí học, chuyên gia trị liệu…) trong việc điều trị giúp đỡ thân chủ, và vai trò của NVCTXH trong đội ngũ CSSK đóng vai trò là cực kì quan trọng,bởi họ là những chuyên gia duy nhất mà có nền tảng trung tâm là uan điểm chính thể luận của họ về một thân chủ( quan điểm nhấn mạnh đến khía cạnh cá nhân, xã hội, gia đình, văn hoá và môi trường trong khả năng lập chức năng xã hội) NVCTXH trong lĩnh vực CSSK thực hiện chức năng trong một bối cảnh thứ cấp, nghĩa là chức năng hàng đầu của các dịch vụ CSSK thường là được điều hướng tới các khía cạnh y sinh,và các dịch vụ xã hội khác. 1.2 Vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực cssk
Nhân viên CTXH trong lĩnh vực CSSK bao gồm các vai trò sau: Nhân viên quan trị Nhân viên trị liệu gia đình Nhà tham vấn Nhà tham vấn hôn nhân Giáo viên – chuyên gia đào tạo Thành viên tổ đội Nhà nghiên cứu Cộng tác viên Người biện hộ Người phát triển nguồn lực Người xử lý khủng hoảng Nhân viên lập kế hoạch dịch vụ Người tìm kiếm trường hợp Người huấn luyện khả năng Nhân viên bộ phận xuất viện Người tạo thuận lợi Người xây dựng hội viên Người điều hợp Nhân viên sàng lọc bệnh nhân Nhà tư vấn Nhân viên phát triển cộng đồng Trợ lý Đại diện cho bệnh nhân Nhân viên duy trì Người phụ trách liên lạc Người thương lượng Nhà tổ chức Nhân viên thực hành –nhà khoa học Nhân viên cải cách Nhà tâm lí trị liệu Nhân viên tiếp nhận bệnh nhân Nhân viên điều hành hoạt động nhóm Giám sát viên Chuyên viên lượng giá Trên đây là những vai trò chung mà nhân viên CTXH có thể đảm nhận, tuy nhiên ở Việt Nam do những đặc điểm về mặt xã hội và ngành nghề có sự khác biệt so với các nước phương tây, nên vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực CSSK mang nhữn nét đặc thù riêng.
Nếu làm trong bệnh viện thì Nhân viên CTXH trở thành người thứ hai, sau bác sĩ, hỗ trợ cho bệnh nhân được tiếp cận các dịch vụ chữa trị một cách tốt nhất và hiệu quả, hỗ trợ cho người bác sĩ chữa bệnh cho bệnh nhân một cách tốt nhất, cung cấp các dịch vụ xã hội cho bệnh nhân. Ta có thể thấy được rằng tuỳ từng vai trò của nhân viên CTXH như thế nào thì nhân viên CTXH sẽ đảm nhận các công việc phù hợp với vai trò của mình. Nếu nhân viên CTXH mở phòng khám riêng thì có vai trò là người điều phối và đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình điều trị cho bệnh nhân.Nếu bệnh nhân gặp các căn bệnh về thực thể thì ta có thể giúp bệnh nhân tiếp cận và chữa trị tại bác sĩ, nếu bệnh nhân gặp phải các căn bệnh về tâm lý nằm ngoài khả năng điều trị của nhân viên CTXH thì có thể giới thiệu đến bác sĩ tâm lý ( Vì ta biết rằng có nhiều vấn đề tâm lý mà nhân viên CTXH vẫn có thể khả năng tham vấn và tư vấn cho bệnh nhân). Chúng ta có thể cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bệnh nhân về ( Kinh tế, thuốc men…). Sau quá trình điều trị tại các bác sĩ thực thể và bác sĩ tâm lý thì bệnh nhân lại quay trở về với chúng ta và tiếp tục quá trình điều trị cho đến khi bệnh nhân có thể thích ứng được với căn bệnh của mình hay sau khi khoẻ mạnh. Ta có thể thấy rằng CSSK vẫn đang đầy sự căng thẳng. Như một tác giả đã nêu “ngày hôm qua thế giới bị “kiểm toán”, ngày nay là nội hàm của nó” (Nacman, 1980,tr.11). Với sự chú ý ngày càng cao của các nhà quản trị CTXH tới việc đảm bảo chất lượng và sự minh bạch, và nhu cầu của khách hàng ngày càng cao về các dịch vụ y tế hiệu quả, sẵn có và dễ tiếp cận, thì nhân viên CTXH cần phải định rõ vai trò và vị trí của mình trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ. Bệnh tim -mạch 2.1Khái niệm bệnh tim Bệnh tim và mạch máu- bệnh tim mạch bao gồm nhiều vấn đề, trong số chúng có liên quan tới một quá trình được gọi là xơ vữa động mạch, xơ vữa động mạch là bệnh phát triển một chất gọi là mảng bám tích tụ lại trên vách của các động mạch, sự tích tụ này thu hẹp động mạch khiến máu khó lưu thông. Nếu cục máu hình thành có thể chặn lưu lượng máu, điều này có thể gây ra cơ đau tim hay đột quỵ. Cơn đau tim sảy ra khi máu chẩy đến một bộ phận của tim bị chặn lại bởi một cục máu, nếu một cục máu này cắt đứt hoàn toàn lưu lượng máu phần cơ tim được cung cấp bởi động mạch này bắt đầu tê liệt. Hầu hết mọi người sống sót qua cơn đau tim đều trở lại với cuộc sống bình thường, nhưng phải chịu sự hành hạ của bệnh tật suốt đời. Đột quỵ do thiếu máu cục (loại phổ biến nhất) xảy ra khi một mạch máu nuôi não bị chặn lại bởi một cục máu, khi máu cung cấp tới một phần não bộ bị đóng lại, các tế bào não sẽ chết, kết quả sẽ là sự bất lực để thực hiện một số chức năng trước đó như đi bộ hoặc nói chuyện. Hậu quả của đột quỵ vĩnh viễn là quá nhiều tế bào não chết sau đột quỵ do thiếu máu và ô xi tới não, các tế bào này không bao giờ được thay thế. 2.2 Các loại bệnh tim: Suy tim: Cơ thể con người bao gồm rất nhiều bộ phận là những cơ quan, mỗi cơ quan như vậy đã được phân công một số nhiệm vụ nhất định thường gọi là chức năng. Nếu vì một nguyên nhân nào, khiến cho cơ quan không đủ sức làm tròn chức năng chính của mình người ta dùng chữ “suy chức năng” nói gọn là suy như suy thận, suy gan. Sim tim: Chức năng của quả tim là bơm máu đi khắp cơ thể để cung cấp o xi và các chất cần thiết khác cho từng tế bào, đồng thời hút máu từ khoảng giữa của các tế bào về tim. Người ta dùng từ suy tim khi quả tim vì một nguyên nhân nào đó không còn khả năng làm nhiệm vụ đó nữa, không bơm đủ máu cho các tế bào bị đói oxi mà cũng không hút được về tim máu đã nghèo oxi rồi, để nó ứ đọng trong người. Chứng loạn nhịp tim: Tim có thể đập quá nhanh hoặc quá chậm bất thường, tim đập chậm khi nhịp tim thấp hơn 60lần/phút và tim đập nhanh khi nhịp tim cao hơn 100lần/phút. Điều này làm ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của tim, tim có thể không có khả năng bơm đủ máu để đáp ứng nhu cầu cho cơ thể. Căn bệnh về van tim: Các van tim mở không đủ cho máu chảy qua như bình thường gọi là hẹp van tim. Khi các van đóng không đúng cách và cho máu rò rỉ qua. Gọi là sự chảy ngược qua van hai lá. Khi các van tim phồng lên hoặc bị sa vào ngăn tim trên gọi là bệnh lệch van tim hai lá. Khi điều này xảy ra chúng có thể đóng không đúng cách. Điều này khiến cho máu chảy ngược qua chúng 2.3Nguyên nhân của bệnh tim mạch: Bệnh tim xuất hiện ở mọi lứa tuổi từ trẻ sơ sinh cho đến người già - Đối với trẻ sơ sinh: trẻ bị mắc bệnh tim bẩm sinh, nguyên nhân là do lỗi gen APOE. Sự thiếu hụt một trong các dạng gen APOE, có thể gây ra chứng xơ cứng động mạch hay hẹp động mạch ở trẻ sơ sinh.Cụ thêr gen APOE biểu hiện dưới ba dáng e2, e3, e4 trong chuỗi AND, gen APOE đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ thống miễn dịch, kiểm soát sự tăng trưởng của các tế bào và sự phát triển của não bộ cũng như cung cấp các chỉ dẫn di truyền học cho việc sản sinh ra những chất béo và Protêin thiết yếu trong máu. Nếu gen này hoạt động không đúng chức năng, nó sẽ không có khả năng ngăn cản tình trạng xơ vữa của các mạch máu từ đó khiến động mạch bị sơ cứng hay hẹp dần. Ở trẻ sơ sinh có nguy cơ mắc bệnh tim, số lượng gen APOE dạng e4 ở mức độ bình thường, dạng e5 hơi cao, còn dạng e2 thì khá thấp. Do đó các nhà khoa học chuẩn đoán rằng sự thiếu hụt dạng e2 chính là nguyên nhân dẫn đến việc mắc phải các bệnh tim mạch sau này ở trẻ nhỏ. - Đối với người lớn: Nguyên nhân dẫn đến bệnh tim mạch là do bệnh huyết áp, bệnh đái tháo đường tăng cao, ăn uống không khoa học, nghiện thuốc lá, nghiện rượu và do nhiễm mỡ máu. 2.4 Triệu chứng của bệnh tim- mạch Đau nhức: - tự nhiên cảm thấy khó chịu hay đau nhức cho dù bạn có nghỉ ngơi cũng không thấy - Đau ở trước ngực, cổ cằm, vai, tay hay lưng - Cảm thấy đau như cắt, đau như bị siết chặt lại, nặng nề hay khó - Phụ nữ cảm thấy đau nhưng lờ mờ, lúc ẩn, lúc hiện - Đau ở trước ngực hay cảm thấy khó chịu do làm việc mệt nhọc và sẽ giảm đi nếu được nghỉ ngơi Hơi thở đứt đoạn - Khó thở Sự nôn mửa - Khó tiêu hoá - Ói mửa (Nguyễn như quỳnh 24/5)
|
|
|
|
|
Logged
|
Ta không thể dạy người khác cái gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ ( Galileo Galile 1564-1642 )
|
|
|
|
^^aby^^
|
 |
« Trả lời #8 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2008, 05:37:54 AM » |
|
3 .Thực trạng và tình hình bệnh tim ở nước ta Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới toàn cầu có 17,5 triệu người bị bệnh tim, 80% tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Ở nước ta tổ chức y tế thế gới đang lo ngại vè tình trạng bệnh tim gia tăng ở việt nam. Bệnh tim mạchlà bệnh có nguy cơ tử vong cao, năm 1980 bệnh tim mạch gây tử vong cao đứng thứ tư, năm 2000 bệnh này gây tử vong hàng đầu. theo GS.TS Phạm Gia Khải, chủ tịch hội tim mạch học quốc gia ở Việt Nam cho biết từ năm 2000 bệnh tim là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nước ta. Cụ thể về tình hình tử vong do các loại bệnh gây ra ở nước ta từ năm 1980 đến năm 2000 được thể hiện như sau: Theo các năm năm Hàng đầu Hàng thứ 2 Hàng thứ 3 Hàng thứ 4 1980 Nhiễm khuẩn Sơ sinh Ung thư Tim mạch 1990 Nhiễm khuẩn Tim mạch Tim mach Sơ sinh 2000 Tim mạch Ung thư Các nguyên nhân khác Nhiễm khuẩn NHư chúng ta đã biết nguyên nhân dẫn đén bệnh tim mạch là do bệnh cao huyết áp,hút thuốc lá nhiều và mỡ máu cao. Tỉ lệ người trưởng thành mắc cao huyêt áp ở nước ta là 16% trong khi 10 năm trước là 2%, bệnh tăng huyết áp là một minh chứng khá rõ rệt về sự phất triển bệnh tim mạch ở Việt Nam. Năm 1960 người bệnh chiếm 1% dân số tại miền Bắc ,năm 1976 người bệnh chiếm 1,9 % dân số tại miền Bắc, năm 1992 chiếm 11,7% đối với cả nước, năm 1999 là 16,05% ở nội thành Hà Nội, năm 2001 chiếm 23,06% ở nội thành Hà Nội, năm 2007 chiếm 16,32 % đối với cả nước. Các vùng miền khác nhau cũng có sự khác nhau về số bệnh nhân mắc bệnh cao huyết áp, cao nhất là thành thị 23,3%, duyên hải 16,6%, đồng bằng 12,4%, trung du là 13,9%. Ở miền bắc bệnh tăng huyết áp chiếm 22,7 %,ở nông thôn là 12,4%, một số khu vực thành thị có tỉ lệ người bệnh cao như thành phố Vinh ( Nghệ An) 31,9%, tiếp theo là Hà Nội 23,3 %, thị xã Thái Bình 20,1 %, thành phố Thái Nguyên 16,2%. Việt Nam là nứoc có tỉ lệ người nghiện thuốc lá vào loại cao trên thế giới, trong khi mối liên hệ giữa thuôc lá bệnh nhồi máu cơ tim là rõ rệt, tỉ lệ béo phì ở nước ta luôn tăng, đặc biệt là ở trẻ em tăng từ 2,2% lên 7,9% chỉ trong vòng 2 năm trở lại đây. Hàng năm trung bình Việt Nam có thêm 16.400 trẻ sơ sinh trào đời mắc bệnh tim bẩm sinh. Vai trò ứng dụng của NVCTXH đối với người bị bệnh tim Những NVCTXH làm việc với bệnh nhân bị bệnh tim sẽ làm việc trong các bối cảnh cá nhân cũng như môi trường y tế nơi bệnh nhân đang được điều trị, vai trò cơ bản là cung cấp dịch vụ, tìm kiếm nguồn lực trong xã hội giúp đỡ bệnh nhân điều trị căn bệnh của họ, tham vấn, tư vấn cho bệnh nhân và gia đinh của họ vượt qua được vấn đề về cảm xúc tâm lí. CSSK ban đầu và đóng vai trò tuyên truyền sức khoẻ về căn bệnh tim và cách phòng chống trong cộng đồng. NVCTXH sẽ nằm trong đội ngũ liên ngành( bác sĩ, y ta,nhà tâm lí…) tham gia trong quá trình điều trị cho bệnh nhân, vai trò của NVCTXH là Tham gia vào quá trình gặp gỡ của nhóm chuyên gia bác sĩ Tham gia các cuộc gặp gỡ để định hướng cho bệnh nhân thực hiện đánh giá tâm lí Thực hành hỗ trợ tham vấn tích cực Trở thành một nguồn thông tin về các nguồn lực và lựa chọn thay thế Đóng vai trò hỗ trợ hoạt động và tư vấn cho các nhóm hỗ trợ, các nhà tham vấn trên điện thoại Hỗ trợ bệnh nhân trong việc thanh toán viện phí và bảo NVCTXH sẽ tham gia thảo luận cùng nhóm chuyên gia, để luôn nắm được tình hình diễn biến về căn bệnh của thân chủ, NVCTXH có thể cung cấp những thông tin có liên quan đến bệnh nhân và những dịch vụ hỗ trợ cho bệnh nhân. NVCTXH sẽ định hướng, cụ thể là sẽ giúp bệnh nhân chuẩn bị cho bệnh nhân việc đối mặt với những căng thẳng tâm lí, nhắc nhở về chi phí điều trị là rất cao nhưng không đảm bảo tuyệt đối cho mức độ thành công và trao đổi về vai trò của nhà tham vấn trong quá trình điều trị. NVCTXH đóng vai trò tham vấn tích cực, để bệnh tim khỏi được cần phải tiến hành mổ,nhưng khả năng thành công còn tuỳ thuộc vào mức độ sức khoẻ của bệnh nhân do đó trong suốt quá trình điều trị sẽ gây ra những căng thẳng nghiêm trọng cho bệnh nhân và người nhà của họ, tuy nhiên chúng ta dẽ nhận thấy mỗi bệnh nhân có sự khác biệt riêng nên NVCTXH cần phải điều chỉnh mức độ can thiệp của mình với từng trường hợp và nhu cầu cụ thể. Đối với những bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn không đử khả năng chi trả viện phí và ca phẫu thuật NVCTXH sẽ giúp họ tìm kiếm những nguồn hỗ trợ cho điều trị bênh tim trong xã hội. Ngoài ra NVCTXH sẽ hỗ trợ về bảo hiểm như những câu hỏi về mức chi trả của bảo hiểm, yêu cầu trợ giúp với các mẫu đăng kí bảo hiểm và những yêu cầu từ những công ty bảo hiểm chính là những nhiệm vụ của NVCTXH, người sẽ chịu trách nhiệm soạn thảo thư từ hoặc thay mặt bệnh nhân gọi điện cho công ty bảo hiểm để đảm bảo quyền lợi cho bệnh nhân mình phụ trách. 5 .Những tiềm năng ứng dụng và phát triển vai trò của NVCTXH Có thể khẳng định tiềm năng ứng dụng và phát triển vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực CSSK nói chung và đối với bệnh nhân bị bệnh tim nói riêng là vô cùng lớn, như chúng ta đã biết bệnh viện và các cơ sở y tế hiện nay luôn ở trong tình trạng quá tải vì số người phải nhập viện tăng theo từng năm, bệnh viện hiện nay còn thiếu đội ngũ những nhân viên đóng vai trò hỗ trợ bệnh nhân, cung cấp những thông tin về bệnh nhân và các dịch vụ xã hội, hỗ trợ tâm lí cho người bệnh trong quá trình điều trị, để thực hiện những công việc đó cần đến vai trò của nhân viên CTXH. Vì vậy trong hiện tại và tương lai bệnh viện và các cơ sở y tế rất cần đến đội ngũ nhân viên công tác xã hội dảm nhiệm vai trò trung gian giữa bệnh nhân và bệnh viện cùng những dịch vụ xã hội có liên quan. Những triển vọng và tiềm năng ứng dụng và phát triển vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực điều trị bệnh tim là vô cùng lớn, bởi số ngưòi bị mắc căn bệnh này luôn tăng và họ rất cần sự hỗ trợ của cộng đồng và NVCTXH sẽ đóng vai trò là cầu nối giữa họ và cộng đồng giúp họ tiếp cận với các dịch vụ CSSK, mặt khác số bệnh nhân bị bệnh tim không ngừng tăng trong các năm sẽ gây ra nhiều áp lực cho xã hội và gia đình của bệnh nhân. Ở nước ta là 1 nước đang phát triển còn gặp nhiều vấn đề khó khăn, chư cho phép người dân tiếp cận vơi những thông tin liên quan đến việc bảo vệ,phòng tránh những căn bệnh nguy hiểm nói chung và bệnh tim nói riêng, trên thực tế khảo sát của bộ y tế cho biết đa số những người bị bệnh tim đều là người nghèo không có khả năng chi trả viện phí và phẫu thuật bệnh tim nhiều trẻ em nghèo và ngưòi nghèo bị bệnh tim chỉ có cách nằm chờ chết. Điều này là một thách thức lớn cho những NVCTXH làm việc với bệnh nhân tim trong tương lai khi tham gia tìm kiếm nguồn lực, dịch vụ hỗ trợ cho bệnh nhân, nhưng xã hội hiện nay đã và đang quan tâm tới căn bệnh này và vai trò của nhân viên công tác xã hội. Tôi tin trong tương lai không xa NVCTXH sẽ làm được nhiều hơn để giúp cho người bệnh và xã hội Tiềm năng với bệnh nhân mắc bệnh tim mà NVCTXH có thể thực hiện vai trò ưng dụng của mình dược thể hiện trong lĩnh vực hỗ trợ tâm lí cho bệnh nhân và người nhà của họ, bởi khi mang căn bệnh này trong người, bệnh nhân rất dễ bị khủng hoảng tâm lí họ luôn căng thẳng, sợ hãi, nhiều người thậm chí khóc lóc, bi quan, suy nghĩ tiêu cực tìm đến cái chết để mong đựoc giải thoát vì nghĩ rằng mình là gánh nặng cho ngưòi thân ảnh hưỏng không nhỏ đến diễn biến của bệnh và ngưòi thân của họ, gia đình của bệnh nhân thì luôn lo âu, buồn phiền…Vai trò của NVCTXH khi này là tham vấn, tư vấn cho bệnh nhân và ngưòi nhà của họ thoát khỏi khủng hoảng về mặt tâm lí. Có thể khái quát những lĩnh vực mà tiềm năng ứng dụng của NVCTXH trong chăm sóc bệnh nhân bị bệnh tim có thể phát triển là. NVCTXH làm việc trong bệnh viện, làm việc trong tổ đội đa thành viên trong quá trình điều trị cho bệnh nhân. Làm việc trong các trung tâm tư vấn đóng vai trò cầu nối giưa bệnh nhân và bệnh viện,cộng đồng. Những khía cạnh mà NVCTXH thựchành có thể mở rộng trong quá trình làm việc với bệnh nhân bị bệnh tim - Tìm kiếm phát triển các nguồn tài nguyên dịch vụ CSSK hỗ trợ cho ngưòi bệnh. - NVCTXH làm viẹc trong bệnh viện, là cầu nối cho bệnh nhân với đội ngũ điều trị - NVCTXH giảng dạy cho bệnh nhân và ngưòi nhà của họ, nhân viên, cộng đồng về khía cạnh tâm lí xã hội về những căn bệnh hiểm nghèo nói chung và bệnh tim nói riêng. Điều này cũng bao gồm việc dạy cho họ những yếu tố phòng ngừa bệnh tim như cách ăn uống, tập thể dục, choi thể thao… - NVCTXH đóng vai trò là một cán bộ tuyên truyền cho cộng đồng về chăm sóc sức khoẻ ban đầu, các nguyên nhân, cách phòng chống các căn bệnh hiểm nghèo. Họ sẽ là thành viên của các diễn đàn, các cuộc hội thảo đa thành viên, những chương trình dịch vụ và có trách nhiệm chia sẽ với những người khác về chuyên môn của mình. III. Kết luận: Tóm lại tiềm năng ứng dụng và phát triển vai trò của NVCTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nói chung và chăm sóc cho người bệnh bị bệnh tim nói riêng là vô cùng lớn và có triển vọng để trở thành một chuyên nghành đặc thù mang tính ứng dụng cao. Xã hội nước ta hiện nay càng ngày càng quan tâm đến vấn đề sức khoẻ cho nhân dân, đặc biệt là các bệnh viện, phòng khám để chữa trị bệnh tim ngày càng nhiều. Cụ thể là: Nước ta có một Hội tim mạch quốc gia, 18 trường Đại học Y, 12 trung tâm tim mạch hoặc viện tim mạch, có 37 bệnh viện tim có chuyên khoa tim mạch riêng, có 17 trung tâm, bệnh viện có khả năng can thiệp tim mạch, 12 trung tâm có khả năng mở tim hở, dùng tuần hoàn ngoài cơ thể. Như vậy, có thể nói bệnh tim mạch ở Việt Nam đang là một vấn đề lớn. Để giảm thiểu bệnh trong dân số cần sự tham gia của nghành tim mạch, toàn xã hội, đặc biệt cần đến vai trò hỗ trợ của NVCTXH đối với quá trình điều trị và giảm tỷ lệ người mắc bệnh tim trong xã hội. Tài liệu tham khảo: 1. Tập bài giảng môn Công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ 2. Trang web: www.dantri.com3. Trang web: www.vietnam.net4. Trang web: www.phongmach.com5. Trang web của Thông tấn xã Việt Nam 6. Tạp chí y học số 42, Tháng :6/2001 (Nguyễn như quỳnh 24/5)
|
|
|
|
|
Logged
|
Ta không thể dạy người khác cái gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ ( Galileo Galile 1564-1642 )
|
|
|
|
^^aby^^
|
 |
« Trả lời #9 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2008, 23:51:15 PM » |
|
I. Mở đầu
Trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế, nền kinh tế của nước ta đã từng bước đi lên làm thay đổi bộ mặt của đất nước, đời sống của người dân được nâng cao hơn, các nhu cầu cơ bản của người dân đã từng bước được đáp ứng con người ngày càng chăm lo cho cuộc sống đầy đủ về vật chất và mặt tinh thần. Nhưng bên cạnh sự phát triển của kinh tế làm cho đời sống của đại đa số người dân được nâng cao thì mặt trái của nền kinh tế đem lại cũng không nhỏ như các vấn đề về ô nhiễm môi trường tại các cơ sở chế biến công nghiệp cũng như tại các nhà máy làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân gây ra các căn bệnh nguy hiểm như các bệnh ung thư… Cùng với mặt trái của nền kinh tế ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân thì nó còn ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong gia đình cũng như là các áp lực mà con người phải chịu đựng trong nền kinh tế thị trường. Con người mải chạy theo lợi nhuận kinh tế nên không chăm lo sức khỏe cho các thành viên trong gia đình cũng như là chính bản thân mình, để mặc con cái trong gia đình ăn uống và sinh hoạt thế nào thì mặc kệ cha, mẹ chỉ biết cung cấp cho con tiền để lo cho sinh hoạt hàng ngày cũng như là khi con cái có biểu hiện của ốm đau thì họ cũng chỉ biết đưa đến các trung tâm y tế, bệnh viện mà không biết tâm trạng cũng như những suy nghĩ của con mình hay những khó khăn của con khi bị bệnh đó để có thể giúp cho con mình vượt qua khó khăn cũng như có thể đối mặt với bệnh tật.
Chính vì vậy, với tình trạng như vậy mà trong lĩnh vực CSSK cho người dân cần có sự tham gia của nhân viên CTXH hỗ trợ trong bệnh viện cũng như tư vấn, giáo dục cho các bậc cha, mẹ cần chăm lo hơn nữa đến sức khỏe của các thành viên trong gia đình.
II. Một trường hợp thực tế về bệnh nhân bỏng và phương án khả thi để thực hành giúp đỡ bệnh nhân đó.
1.Mô tả về bệnh nhân bỏng
Trường hợp mà tôi sắp mô tả là một trường hợp có thật đó là một trường hợp về một chị nhà cạnh nhà tôi. Chị tên là Nguyễn Thị Tuyết, năm nay 26 tuổi đã lập gia đình nhưng chưa có con. Và trong một lần sinh cháu nhưng chị không giữ được được đứa con đó, nó chết luôn sau khi chào đời, sự việc này đã làm cho bản thân chị cũng như chồng, gia đình chị buồn bã, thất vọng vì đây không phải là lần đầu tiên chị mang thai và sinh đẻ mà là lần thứ hai. Cả hai lần này chị đều không giữ được con chính vì vậy đây là một vấn đề mà ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý cũng như sức khỏe của mình. Ở địa phương của tôi có một tập tục là khi người mẹ mà sinh cháu thì phải nằm trong bếp bên cạnh đống lửa trong thời gian khoảng hơn 10 ngày tùy thuộc vào việc sinh đứa con thứ mấy. Và trường hợp của chị cũng như vậy, khi sinh con ra mà không nuôi được thì chị vẫn phải nằm bên cạnh đống lửa theo quan niệm là nó sẽ giúp cho khỏe mạnh sau này sẽ không bị ảnh hưởng gì đến sức khỏe sau này của chị. Nhưng do hoàn cảnh cũng như điều kiện mẹ chị mất sớm nên không chăm sóc được cho chị trong thời gian nằm bếp như vậy cùng với chồng, mẹ chồng không quan tâm chăm sóc do họ có suy nghĩ là chị không biết sinh con nên họ để mặc cho chị một mình mà không hỏi han, động viên, chăm lo cho chị nên do một lần sơ ý cũng như do lúc đó sức khỏe của chị không được cân bằng nên chị đã ngã dụi vào bếp trong khi lửa đang cháy gác mặt lên kiềng sắt trong thời tiết là mùa đông nên chị mặc rất nhiều áo rét mà nó lại được làm từ chất liệu như nhựa polime nên nó cháy rất khó chữa. Trong khi chị bị ngã vào bếp như vậy mà chồng, cũng như gia đình của chị không hay biết gì cả chỉ khi họ gửi thấy mùi khét từ tóc
cũng như quần áo của chị thì họ mới từ trên nhà chạy xuống kéo chị ra khỏi bếp. Khi đó mẹ chồng chị có chạy sang gọi bố mẹ tôi (thời gian lúc đó là khoảng 4 giờ sáng) và tôi đã cùng bố mẹ tôi chạy lại nhưng tôi thật sự hoảng hốt khi nhìn thấy khuôn mặt của chị là một màu đen cháy xém, thịt như nứt ra tôi sợ quá không làm được gì chỉ biết ngồi khóc trong khi mẹ tôi cùng với chồng chị lấy kéo giật hết áo của chị ra trong khi nó vẫn đang bốc khói. Sau đó chồng chị đã đưa chị lên nhà và gọi xe cấp cứu để đưa chị đi bệnh viện.
Và xe cấp cứu đã phải đưa chị ra bệnh viện 103 để cấp cứu và khi có người nhà của chị về thì tôi cũng chier được biết thông tin là chị đã qua được cơn nguy hiểm và chị phải diều trị tại bệnh viện trong một thời gian dài hơn một tháng và trong thời gian chị điều trị tại viện đó thì tôi có ra thăm chị được một lần, tôi thật sự kinh ngạc khi nhìn thấy khuôn mặt của chị từ một khuôn mặt sinh sắn giờ tôi không thể hình dung ra là nó lại thế này được, khuôn mặt của chị đã qua một lần phẫu thuật cắt da ở tay để thay cho da mặt mà không làm cho khuôn mặt của chị được như trước kia với một con mắt trái không bao giờ nhắm được kể cả khi nằm ngủ, một tai bên trái của chị đã bị cháy nhưng giờ vẫn có thể nghe được, một bên da mặt của chị giờ nó không còn được như trước nữa mà nhăn chỉ còn là da bọc thịt nữa thôi, cùng với mái tóc ngày xưa dài của chị đã biến mất chỉ để lại mấy sợi mà nó còn lộ ra xương đầu nữa. Khi chị nhìn thấy tôi chị đã khóc và chị bảo là nhìn chị có sợ không? lúc đó trong suy nghĩ của tôi chị đáng thương hơn là đáng sợ và tôi hi vọng là chị sẽ sớm hồi phục sức khỏe để sớm ra viện.
Do kinh tế của gia đình chị không đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa bệnh, dùng các phương pháp phẫu thuật chỉnh hình để có thể làm giảm bớt hậu quả của trận bỏng đó đến với chị nên gia đình chị chỉ có thể gom tiền
làm phẫu thuật cho chị được một lần cùng với chi trả viện phí và các loại thuốc trong quá trình cấp cứu cũng như trong điều trị.
Sau khi từ bệnh viện trở về chị gặp rất nhiều khó khăn đó là mặc cảm của bản thân về di chứng căn bệnh để lại cùng với việc không dám tiếp xúc với người trong xóm. Chị suốt ngày chỉ ở trong nhà không dám đi ra ngoài và lúc nào cũng bịt kín khuôn mặt không để lộ ra để nếu mọi người có vô tình nhìn thấy thì cũng không thể nhìn thấy gì ngoài đôi mắt của chị. Chị không những mặc cảm về bản thân mà sức khỏe của chị còn suy yếu một cách rõ rệt cùng với khi bác sĩ có nói với chị là chị khó có thể mang thai được trong tình hình như hiện nay và việc đối xử không quan tâm của chồng cũng như là gia đình nhà chồng họ cho rằng chị là người đem lại khó khăn cho gia đình làm cho nợ chồng chất.Chính những điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý cũng như sức khỏe của chị đã có lúc chị tâm sự cùng mấy chị em chúng tôi là chị không thiết sống như thế này nữa thà chết đi còn hơn không mang gánh nặng cho ai nữa nhưng trong một thời gian nghe mẹ tôi cùng mấy chị em tôi động viên chị nên lạc quan hơn với cuộc sống không phải mọi việc đều đã kết thúc nên chị đã không còn suy nghĩ như vậy nữa. Và hiện tại chị vẫn sống bình thường cùng với nhà chồng nhưng họ vẫn không quan tâm đến chị như trước khi không có chuyện xảy ra, sức khỏe của chị đã dần hồi phục giờ chị có thể làm được công việc đồng áng như mọi người nhưng những mặc cảm về bệnh tật mặc dù có nguội bớt đi nhưng nó vẫn để lại cho chị khó khăn khi tiếp xúc với người khác đặc biệt là với những người mới gặp lần đầu tiên.
2. Phương án khả thi để giúp đỡ bệnh nhân bỏng trong trường hợp này
Với vai trò là một nhân viên CTXH trong mọi trường hợp khi bệnh nhân gặp phải những khó khăn về vấn đề sức khỏe cũng như các vấn đề khó khăn khác thì nhân viên CTXH phải giúp đỡ bệnh nhân để có thể khắc phục được một phần nào khó khăn về mặt tinh thần cũng như là điều kiện để chữa trị. Chính vì vậy trong trường hợp này, nếu với vai trò là nhân viên CTXH tôi sẽ lập kế hoạch cụ thể để giúp đỡ cho chị từ khi xuất viện cũng như trong quá trình điều trị với việc cung cấp dịch vụ, tìm các nguồn lực để giúp đỡ gia đình chị có tiền để chữa trị cho chị, và sau khi xuất viện thì vai trò của nhân viên CTXH cũng sẽ được thể hiện rõ trong việc làm các thủ tục xuất viện, cùng với giúp đỡ chị xóa bỏ mặc cảm về bản thân và hòa nhập cùng với cộng đồng. Cụ thể bao gồm các bước:
2.1. Nhập viện
Trong tình trạng hoảng loạn về tình trạng của chị như vậy, khi gia đình chị đưa chị vào viện thì họ sẽ không biết phải làm thủ tục nhập viện bao gồm những gì nên trong trường hợp này phải đòi hỏi có sự giúp đỡ của nhân viên CTXH giúp đỡ cho người nhà chị nhanh chóng làm các thủ tục nhập viện để giảm bớt rắc rối trong khi họ đưa chị vào viện làm cho họ có cảm giác yên tâm khi đã làm song các thủ tục cần thiết đó.
2.2. Đánh giá
Đánh giá là một khâu rất quan trọng mà nhân viên CTXH phải làm nhanh trong khi chị nhập viện thì nhân viên CTXh phải hỗ trợ các bác sĩ hiểu về chị nhiều hơn cũng như là nguyên nhân mà chị bị bỏng nặng như vậy, và tình hình kinh tế của gia đình chị như thế nào cùng với thái độ của người nhà đối với chị như thế nào để nhân viên CTXH có thể giúp đỡ chị cũng như gia đình chị tìm các nguồn hỗ trợ, các dịch vụ cần thiết để cho chị
có thể điều trị được tốt hơn. Đồng thời trong quá trình điều trị thì nhân viên CTXH cũng cần phải đánh giá xem chị dùng các loại thuốc như thế nào và chị có dùng nó một cách đúng không hay các y tá ở bệnh viện chăm sóc, tiêm thuốc cho chị như thế nào? có đúng giờ quy định hay không để có thể điều chỉnh lại một cách hợp lý hơn.
2.3. Tham vấn
Trong trường hợp như thế này thì nhân viên CTXH phải vận dụng các kỹ năng trong giao tiếp cũng như là kỹ thuật trị liệu tâm lý để có thể giúp đỡ chị ổn định về mặt tâm lý giúp cho quá trình điều trị được tốt hơn. Nhân viên CTXH phải nói chuyện với chị để khơi dậy trong chị những suy nghĩ về những khó khăn, cảm xúc mà chị đang đối mặt để nhân viên xã hội có thể giúp đỡ chị giải tỏa các cảm xúc đó, giúp chị tự tin vào cuốc sống để đương đầu với bệnh tật trong quá trình điều trị như cần nói với chị là “chị phải lạc quan lên vì cuộc sống còn nhiều điều mà chúng ta phải đi hết” cũng như là tương lai còn ở phía trước chúng ta chính vì vậy không nên bi quan về cuộc sống mà phải lạc quan lên...Và cứ như vậy nhân viên CTXH sẽ tiếp cận với chị trong suốt thời gian chị điều trị tại bệnh viện giúp chị hiểu rõ về giá trị của cuốc sống chính vì vậy mà chị phải tích cực uống thuốc nghe theo lời chỉ dẫn cả bác sĩ để cho sức khỏe sớm hồi phục.
Cùng với nhân viên CTXh tham vấn cho chị thì mặt khác nhân viên CTXH phải tham vấn cho gia đình chị hiểu về khó khăn mà chị đang gặp phải và sự quan tâm, động viên của người thân chính là động lực để chị có thể vượt qua khó khăn đó mới có thể sớm hồi phục.
2.4. Tìm các dịch vụ cũng như là các nguồn hỗ trợ cần thiết để giúp đỡ gia đình chị có kinh phí để chữa trị cho chị.
Trong khi đánh giá về hoàn cảnh của gia đình chị nhân viên CTXH đã hiểu rõ về những khó khăn về tiền bạc để có thể điều trị cho chị thì họ đã phải đi vay, đi mượn tiền của anh em hàng xóm mới có thể chi trả các khoản viện phí đắt đỏ cùng với các loại thuốc đắt tiền trong quá trình điều trị. Chính vì vậy nhân viên CTXH ở đây là phải tìm các nguồn hỗ trợ từ các nhà hảo tâm để có thể giúp đỡ gia đình chị có kinh phí chi trả cho bệnh viện cũng như là liên hệ với các ngân hàng chính sách (như Hội phụ nữ xã, ngân hàng đầu tư và phát triển nông thôn...) để có thể cho gia đình chị vay vốn trong một thời gian dài mà không phải đợi để làm các thủ tục lằng nhằng hàng tháng mới nhận được tiền vay vốn như mọi khi họ vay.
2.5. Xuất viện
Khi mà tình trạng sức khỏe của chị đã tiến triển tốt thì với sự đồng ý của gia đình và của bác sĩ thì gia đình chị đã làm các thủ tục xuất viện cho chị. Trong quá trình làm các thủ tục xuất viện thì nhân viên CTXH sẽ đóng vai trò giúp đỡ cho gia đình chị làm các thủ tục xuất viện một cách nhanh chóng với các giấy tờ phải xin ở đâu và phải đến những phòng ban nào để làm các thủ tục đó thì nhân viên xã hội sẽ giúp đỡ người nhà chị trong các công việc đó.
2.6. Hỗ trợ chị hòa nhập với cộng đồng
Khi trở về sau quá trình điều trị tại bệnh viện chị đã hồi phục lại phần nào về sức khỏe nhưng di chứng sau việc chị bị bỏng để lại thì vẫn còn trên khuôn mặt của chị nên chị mặc cảm với bệnh tật nên ngại tiếp xúc với người khác suốt ngày chị chỉ ở trong nhà với khuôn mặt lúc nào cũng bịt khăn kín mít chỉ để lộ hai mắt. Đồng thời người nhà chị đặc biệt là chồng chị không
còn quan tâm đến chị như trước kia nữa mọi người lạnh nhạt, tỏ rõ thái độ không coi chị ra gì trong gia đình và luôn miệng nói với chị là vì chị mà gia đình mắc nợ...Như vậy, sau khi ra viện chị đã gặp rất nhiều khó khăn về mặt tâm lý cũng như sức khỏe nên nhân viên CTXH cần phải giúp đỡ chị.
Trước hết là cần phải động viên chị cần lạc quan lên để vượt qua được hoàn cảnh đó mặc kệ những lời bàn tán, dị nghị mà người khác nói về mình coi như là mình không biết gì về việc đó, phải luôn gặp gỡ, nói chuyện với chị để chị có người tâm sự mới có thể vơi đi những buồn phiền.
Thứ hai, nhân viên CTXH cần gặp và nói chuyện với gia đình chị đặc biệt là chồng chị nói cho họ hiểu tình trạng của chị hiện nay sẽ không chịu được thêm một áp lực nào nữa vì những áp lực mà chị đã trải qua như vậy là quá đủ rồi nên cả gia đình cần quan tâm nhiều đến chị, mọi người không nên bỏ mặc chị như vậy mà phải động viên chị để giúp chị vượt qua những khó khăn đó.
Cuối cùng nhân viên CTXH cần phải gặp gỡ với các cấp lãnh đạo địa phương đặc biệt là hội phụ nữ để họ có thể giúp chị trong việc tuyên truyền cho mọi người hiểu về hoàn cảnh của chị hiện nay và họ cần phải cởi mở để chị không còn cảm giác tự ti như thế nữa.
III. Kết luận
Bệnh nhân bỏng ngày càng phổ biến trong tình hình hiện nay và họ gặp rất nhiều khó khăn về mặt tâm lý cũng như là trong quá trình điều trị tại bệnh viện và sau khi xuất viện. Hầu hết họ đều gặp khó khăn về vấn đề nhập viện với các thủ tục nhập viện rắc rối nhiều phòng ban và họ gặp khó khăn nhiều về vấn đề tài chính nên vai trò của nhân viên CTXH là rất quan trọng giúp đỡ họ trong những trường hợp này.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Hai, 2010, 00:52:37 AM gửi bởi -_-ABY-_- »
|
Logged
|
Ta không thể dạy người khác cái gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ ( Galileo Galile 1564-1642 )
|
|
|
|
^^aby^^
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2008, 23:52:14 PM » |
|
. Thực trạng CSSK của nước ta hiện nay
Công tác CSSK của nước ta hiện nay mặc dù đã có sự quan tâm ngày càng chặt chẽ đến sức khỏe của người dân và coi sức khỏe là điều quan trọng nhất, cốt lõi nhất đi đôi cùng phát triển kinh tế là cần phải đảm bảo nhu cầu cuộc sống của người dân trong đó cần đảm bảo sức khỏe tốt thì người dân mới có thể góp phần vào xây dựng và bảo vệ đất nước hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chính vì vậy mà hiện nay nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc CSSK cho người dân với các dự án, chương trình xây dựng các bệnh viện, trạm y tế ở các xã, huyện vùng sâu, vùng xa, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cho các bệnh viện cũng như chú trọng vào đào tạo các cán bộ y tế có đầy đủ kỹ năng, khả năng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp tốt để đảm bảo cho nhu cầu khám, chữa bệnh cho người dân.
Nhưng bên cạnh đó, do nền kinh tế của nước ta chưa thật sự phát triển, vì vậy mức chi tiêu ngân sách cho y tế của nước ta còn thấp với chỉ số cụ thể là 6,1% tổng số chi tiêu của nhà nước. Tỷ lệ này còn khá khiêm tốn với các
nước như Campuchia là 16%; Lào (7%); Trung Quốc (10%); Nhật Bản (16,9%)...Trong tổng số chi tiêu cho y tế của cả nước thì Nhà nước chỉ đóng góp 28%, còn lại 72% do người dân đóng góp (Theo Bảo hiểm y tế phát triển cộng đồng, Nguyễn Văn Tuân, thời báo kinh tế Sài Gòn số điều tra
tháng 5/ 2007). Như vậy với mức chi tiêu cho y tế như vậy chúng ta thấy kinh phí mà nhà nước đầu tư vào y tế còn rất thấp nên chưa đảm bảo được các nhu cầu khám, chữa bệnh cho người dân. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, 2007 cho thấy với dân số nước ta vào thời điểm đó là 85154,9 nghìn người trong khi đó số lượng Bác sĩ tính bình quân cho 1 vạn dân chỉ có 6,4 nghìn người; tổng số bệnh viện là 956 bệnh viện trong cả nước; Phòng khám đa khoa khu vực là 829 phòng; Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng có 51 cơ sở; trạm y tế xã, phường là 10815; Trạm y tế cơ quan, xí nghiệp là 710; các cơ sở y tế khác là 41 cơ sở. Số giường bệnh tính theo bình quân cho 1 vạn dân là 24,8 nghìn giường. Trang thiết bị phục vụ cho việc khám chữa bệnh còn thiếu đặc biệt là ở các trạm y tế xã vùng sâu, vùng xa...Chính vì vậy mà vấn đề thiếu bác sĩ, cơ sở khám chữa bệnh còn ít nên vấn đề quá tải ở các bệnh viện tuyến trên ngày càng trở nên nghiêm trọng như tại khu khám ngoại chẩn BV Chấn thương chỉnh hình TP, mỗi ngày hàng ngàn bệnh nhân (BN) chen kín toàn bộ khu vực sân, cứ nằm phơi giữa lớp người người lấn nhau tìm lối đi. BV Chấn thương chỉnh hình có 11 phòng mổ cũng quá tải, ngoài trường hợp chấn thương phải mổ cấp cứu, còn chỉnh hình phải hẹn mổ từ 3-6 tháng. Mỗi phòng khám của BV này có 12-14m2, nhưng bốn bác sĩ phải khám 150-200 BN, thậm chí 230 BN/ngày...BV Ung bướu cũng vậy, luôn đầy ắp người bệnh đau đớn, mệt mỏi ngồi chờ đọc tên. Tại BV Từ Dũ, cả giường bệnh người lớn, sơ sinh đều
quá tải: BV 1.000 giường nhưng BN nội trú luôn khoảng 1.400 người và khoảng 1.400-1.600 BN đến khám/ngày. BV có 14 phòng mổ, hiện phải mổ thông tầm, dù đã mổ trên 100 ca/ngày vẫn phải hẹn BN chờ mổ. Khu dưỡng nhi có 150 giường nhưng luôn có 220-250 trẻ sơ sinh nằm.thực tế tại các
bệnh viện lớn, như Thanh Nhàn, công suất sử dụng giường bệnh năm 2007 là 117%; BV Xanh Pôn có 500 giường bệnh nhưng số lượng bệnh nhân lên tới 700 người...(Việt Nam net)
2. Tiềm năng ứng dụng và phát triển vai trò của nhân viên CTXH trong lĩnh vực CSSK.
2.1 Những việc mà nhân viên CTXH đã làm được trong lĩnh vực CSSK ở nước ta trong thời gian qua.
Nước ta hiện nay ngành CTXH chưa thực sự phát triển mà chỉ mới bước đầu đang được phát triển với đội ngũ nhân viên còn hạn chế, và đang được đào tạo trong các trường Đại học, cao đẳng chuyên nghiệp cho nên vai trò của nhân viên CTXH trong lĩnh vực CSSK chưa thực sự đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù như vậy nhưng vai trò của nhân viên CTXH vẫn được nhận thấy rõ trong các hoạt động CSSK như vận động người dân tích cực tham gia vào các hoạt động, công tác CSSK ban đầu, tuyên truyền cho người dân hiểu rõ hơn về việc cần thiết phải CSSK cho bản thân, gia đình và cộng đồng như thế nào cho phù hợp. Cũng như là khi trong cộng đồng có phát hiện ra bệnh dịch thì nhân viên CTXH sẽ là người giúp đỡ cho người dân phòng và chống bệnh dịch, cùng với Bộ y tế đưa ra các giải pháp, phương án khả thi nhất để giúp người dân.
Nhân viên CTXH đã phát triển một loạt các nguồn lực đa dạng để giúp đỡ thân chủ bao gồm những nhóm hỗ trợ thân chủ hay cứu trợ lẫn nhau và các dịch vụ tham vấn cho bệnh nhân điều trị ngoại trú. Nhân viên CTXH tham gia tích cực vào các hoạt động hỗ trợ nhân đạo, chăm sóc sức khỏe tại nhà và chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Như vậy, hiện nay nhân viên CTXH ở nước ta chỉ tham gia vào công tác CSSK tại cộng đồng, địa phương mà chưa thực sự tham gia đóng vai trò
CSSK tại bệnh viện để cùng với các Bác sĩ giúp đỡ bệnh nhân về mặt tâm lý và tham vấn cho gia đình trong việc đối mặt với các tác động của bệnh tật cũng như cung cấp các dịch vụ hõ trợ cần thiết cho bệnh nhân.
Nhân viên CTXH đóng góp một phần vai trò của mình trong CSSK hoạt động tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội như trung tâm bảo trợ xã hội III, IV, trung tâm bảo trợ ở các tỉnh như Vĩnh Phúc...Tại các trung tâm, đó là những ngôi nhà thứ hai cho các đối tượng gặp khó khăn trong cuộc sống như người già, trẻ em...và nhân viên CTXH hoạt động tại các trung tâm này để hỗ trợ cho họ có cuộc sống ổn định hơn, cũng như chăm sóc khi ốm đau, bệnh tật đưa họ đi đến các trung tâm CSSK, các bệnh viện để khám và điều trị bệnh, chia sẻ, động viên hỗ trợ về mặt tâm lý giúp họ vượt qua những khó khăn đó.
Cùng với các hoạt động tại các trung tâm bảo trợ nhân viên CTXH còn hoạt động trong lĩnh vực CSSK làm việc tại các phòng tư vấn. Ở các trung tâm tư vấn này nhân viên CTXH cũng có thể hoạt động giúp đỡ các bệnh nhân mắc các bệnh về tâm lý như các bệnh về rối nhiễu tâm trí, tâm thần... tư vấn, giúp bệnh nhân thích nghi với bệnh tật và tư vấn cho người nhà cần đưa bệnh nhân đến các cơ sở y tế để điều trị.
Nhưng với các hoạt động của nhân viên CTXH chỉ là hỗ trợ tạm thời cho bệnh nhân, tư vấn cho gia đình bệnh nhân mà chưa thực sự tham gia vào quá trình giúp đỡ cho bệnh nhân trong quá trình điều trị và sau khi xuất viện. Chính vì vậy với tình hình CSSK của nước ta hiện nay thì vai trò của nhân viên CTXH trong lĩnh vực CSSK sẽ có nhiều tiềm năng để phát triển.
2.2 Tiềm năng ứng dụng và phát triển vai trò nhân viên CTXH trong lĩnh vực CSSK.
Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, CTXH chiếm một vị trí quan trọng cả trong vai trò chính tại trung tâm công tác xã hội cũng như vai trò thứ hai sau bác sĩ tại các bệnh viện, cơ sở y tế, ví dụ như thực hành công tác xã hội với nhóm bệnh nhân vô sinh áp dụng bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, với bệnh nhi mất người thân, hỗ trợ gia đình và bệnh nhi có vấn đề đường hô hấp, trong trung tâm chăm sóc sức khỏe phụ nữ, trong can thiệp khủng hoảng tâm lý, với bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình hoặc bệnh nhân bỏng, trong chăm sóc xoa dịu nỗi đau, với bệnh nhân cấy ghép tạng, trong quản lý bệnh mãn tính, trong phục hồi năng lực thể chất, với bệnh nhân cấp tính xuất viện, với bệnh nhân có chấn thương ở đầu, với bệnh nhân có HIV, tại cơ sở chăm sóc người cao tuổi, tăng cường sức khỏe bằng hành động. Trong tất cả những lĩnh vực đó, nhân viên công tác xã hội đều có những vai trò nhất định, thu thập các dữ liệu chính xác, đánh giá nhu cầu tâm lý, xã hội, môi trường của các bệnh nhân cần dịch vụ CSSK và cung cấp và phát triển các nguồn để thỏa mãn nhu cầu khám, chữa bệnh. Tại Việt Nam hiện nay mô hình này chưa được áp dụng nhưng tính khả thi cũng như tiềm năng ứng dụng của nó vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe là rất lớn.
Trong lĩnh vực sức khỏe, bao gồm cả sức khỏe tâm thần (tại các bệnh viện và phòng khám): nhân viên công tác xã hội có vai trò hỗ trợ về mặt tâm lí xã hội cho các bệnh nhân và gia đình trong việc đối mặt với các tác động của bệnh tật và sự ốm đau, bao gồm việc đánh giá các khía cạnh xã hội đóng góp cho bác sĩ quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnh; cung cấp hỗ trợ tâm lý xã hội cho quá trình hồi phục của bệnh nhân và và thu xếp những dịch vụ hỗ
trợ điều trị bệnh (nếu có sẵn những dịch vụ đó).
Như GS.TS Phạm Huy Dũng, Trường ĐH Thăng Long đã đưa ra những lý do cần có nhân viên công tác xã hội trong ngành y tế, đó là: Nhân viên CTXH cùng với các bác sĩ và y tá chăm sóc bệnh nhân hiệu quả hơn. Chính vì vậy mà trong tình hình nền kinh tế nước ta phát triển nhanh làm xuất hiện nhiều bệnh tật mới mà không phải ai khi đến bệnh viện đều biết tất cả các thủ tục khi nhập viện hoặc trong quá trình điều trị có nhiều bệnh nhân không muốn uống thuốc do các bác sĩ chưa hỗ trợ, tư vấn về mặt tâm lý để bệnh nhân hiểu là việc uống thuốc sẽ giúp nhanh khỏi bệnh. Đồng thời trong quá trình điều trị tại bệnh viện kinh phí phải bỏ ra nhiều trong khi kinh tế gia đình của bệnh nhân không thể đảm bảo đầy đủ chính vì vậy mà nhân viên CTXH sẽ hỗ trợ bệnh nhân bằng việc tìm các nguồn hỗ trợ cần thiết cho bệnh nhân. Cũng như nhân viên CTXH sẽ giúp người nhà bệnh nhân sớm thích ứng với các biểu hiện của bệnhh cũng như là khó khăn trong quá trình chăm sóc cho bệnh nhân và cuối cùng là khi bệnh nhân xuất viện cũng cần có sự giúp đỡ hỗ trợ vì họ không biết làm các thủ tục xuất viện như thế nào và ở đâu. Với các khó khăn trong quá trình điều trị cho bệnh nhân như vậy nên cần có sự giúp đỡ của nhân viên CTXH hoạt động trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, nhu cầu cần một nhân viên công tác xã hội trong ngành y tế và trong các trung tâm chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng như trong tâm công tác xã hội thực sự cấp bách nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân cũng như nhu cầu cần người trợ giúp, hợp tác của các bác sỹ. Những tiến bộ trong ngành y cũng như tiến bộ về khoa học kỹ thuật nói chung đang ngày càng tạo ra nhiều nhóm dân cư có nguy cơ cao (vd: bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, bệnh nhân cấy ghép tạng, nạn nhân của bạo lực gia đình,..) hơn nữa những thay đổi về nhân khẩu học khiến chúng ta càng ngày càng phải bận tâm tới những đối tượng người già, gia đình độc
thân nuôi con, và những vấn đề khác về lối sống. Sự gia tăng của số lượng dân cư già lão sẽ dẫn đến nguy cơ là các bệnh mãn tính xảy ra nhiều hơn, đòi hỏi cần có sự quan tâm nhiều hơn, chứ không phải là bệnh cấp tính. Các mối quan tâm hàng đầu về chính sách y tế cũng càng ngày càng tập trung vào công tác nâng cao sức khỏe, chăm lo sức khỏe, khả năng tự chăm sóc và công tác cứu trợ cũng như hỗ trợ lẫn nhau.
Hiện nay nhân viên CTXH chưa thực sự làm việc tại bệnh viện vì chưa có mã nghề cho nhân viên CTXH trong lĩnh vực CSSK. Nhưng với xu thế phát triển của nước ta hiện nay thì vai trò của nhân viên CTXH sẽ sớm có điều kiện để phát huy có thể cùng với bác sĩ điều trị bệnh nhân để đạt hiệu quả hơn. Chính vì vậy mà việc đào tạo, rèn luyện kỹ năng, trau dồi kiến thức cho các nhân viên CTXH trong lĩnh vực CSSK là một vấn đề đặt ra cần được thực hiện ngay.
Đặc biệt, khi sự cần có của nhân viên CTXH làm việc tại bệnh viện thì không chỉ tự bản thân nhân viên CTXH phải liên hệ cũng như là làm việc trong điều kiện tiền lương được trả công ít vì các bác sĩ trong bệnh viện chưa thấy rõ được vai trò quan trọng của nhân viên CTXH trong lĩnh vực này nên họ không đồng tình ủng hộ. Chính vì vậy điều này đòi hỏi các cơ quan chức năng trong Bộ y tế cần ban hành các văn bản, nghị định, quy định liên quan đến việc bổ nhiệm công việc, quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của các nhân viên CTXH hoạt động trong lĩnh vực này. Có như vậy thì vai trò của nhân viên CTXH mới thật sự được phát huy, mới có thể đảm bảo nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.
III. Kết luận
Như vậy, trong tiến trình phát triển kinh tế của đất nước nhà nước ta không chỉ chú trọng vào vấn đề phát triển kinh tế mà còn rất quan tâm đến công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân. Nhưng công tác chăm sóc đó chưa thật sự đảm bảo cho nhu cầu của cả cộng đồng do điều kiện ngân sách của nhà nước chi tiêu cho y tế còn hạn chế cũng như các quá trình giúp đỡ, hỗ trợ cho bệnh nhân trong quá trình điều trị chưa được sự quan tâm của nhân viên CTXH trong lĩnh vực CSSK.
Chính vì vậy trong tình hình kinh tế nước ta phát triển nhanh nhưng mặt trái của nó mang lại cũng nhiều làm xuất hiện nhiều căn bệnh mới nguy hiểm hơn, cũng như con người trong cơ chế thị trường chịu nhiều áp lực nên các loại bệnh về tinh thần ngày càng phổ biến ở người dân do vậy vai trò của nhân viên CTXH trong lĩnh vực CSSK có nhiều tiềm năng để phát triển và sẽ thực sự phát triển khi có sự tham gia của các cơ quan ban hành các nghị định, nghị quyết về việc áp dụng vai trò của nhân viên CTXH trong lĩnh vực CSSK.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Hai, 2010, 00:53:14 AM gửi bởi -_-ABY-_- »
|
Logged
|
Ta không thể dạy người khác cái gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá những gì sẵn có trong họ ( Galileo Galile 1564-1642 )
|
|
|
|